Chào mừng bạn đến với website Naraphar


  Hotline : 0913 333 081

Tin tức tổng hợp

GINGKO BILOBA: TINH CHẤT QUÝ HIỆU QUẢ ĐẾN 99% VỚI NGƯỜI RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH VÀ SUY GIẢM TRÍ NHỚ

Tiền đình là vùng nằm ở phía sau ốc tai, có vai trò quan trọng trong duy trì thăng bằng, phối hợp cử động mắt, đầu và thân mình. Khả năng giữ thăng bằng cơ thể tùy thuộc vào các cảm giác đến từ ba vùng chính là mắt, tai trong và các thớ thịt, khớp xương. Bộ phận tiền đình có trách nhiệm cung cấp cho não bộ các cảm giác về tư thế, vị trí và sự xoay của cơ thể cũng như sự hiện diện các vật xung quanh. Khi cơ quan này không thực hiện được đầy đủ chức năng, bệnh lý rối loạn tiền đình xuất hiện.

                                           Rối loạn tiền đình là căn bệnh phổ biến

Các chuyển động như quay mình, nghiêng sang phải qua trái, tới phía trước phía sau, lên trên hay xuống dưới đều được các bộ phận này ghi nhận. Não bộ tiếp nhận, phân tích, phối hợp các tín hiệu này để giữ vững cơ thể. Khi não bộ không sử dụng được các tín hiệu này hoặc tín hiệu không rõ rệt, trái ngược nhau thì ta sẽ bị mất thăng bằng.

Rối loạn tiền đình dễ xảy ra ở những người làm việc văn phòng, ngồi nhiều trong phòng máy lạnh và tiếp xúc thường xuyên với máy tính. Vì ngồi nhiều trong phòng máy lạnh, vùng cột sống cổ dễ bị nhiễm lạnh, lâu ngày gây co thắt động mạch cột sống, dẫn đến chứng rối loạn tiền đình. Đây cũng là nguyên nhân khiến bệnh dễ tái phát nếu không được chú ý kỹ.

Phát hiện mới trong điều trị rối loạn tiền đình – hoạt chất Gingko biloba

Hoạt chất Gingko Biloba có thể dễ dàng xuyên qua hàng rào máu não và tác động trực tiếp lên các tế bào thần kinh não bộ. Với tác dụng ức chế men cholinesterase khá mạnh, Gingko Biloba hạn chế sự phân hủy chất dẫn truyền thần kinh Acetylcholin (Ach), qua đó làm tăng cường dẫn truyền thần kinh. Nhờ đó thông tin thần kinh được truyền đạt dễ dàng hơn. Vì thế đáp ứng rất tốt với các bệnh về thần kinh nhất là rối loạn tiền đình.

                                              Gingko Biloba – hoạt chất quý trong cây Gingko Biloba

Brain Nara – sản phẩm chứa thành phần Gingko biloba cao – hiệu quả đến 99% rối loạn tiền đình

Brain Nara có thành phần chính là Gingko biloba – loại dược liệu quý giúp tăng cường dẫn truyền thần kinh và hồi phục hệ thần kinh bị hư tổn, do đó hiệu quả cao đối với bệnh nhân rối loạn tiền đình.

Đối với nhiều người, do tính chất công việc thường phải ngồi một chỗ và nhiều áp lực, căng thẳng nên thường xuyên bị đau đầu, chóng mặt, nhất là khi thay đổi tư thế ( đứng lên, ngồi xuống…). Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công việc và cuộc sống của nhiều người.

Các chuyên gia khuyên dùng Brain Nara

Không chỉ được người bệnh tin tưởng, Brain Nara còn được các chuyên gia đánh giá cao về công dụng tăng dẫn truyền thần kinh và tính an toàn của sản phẩm, mang lại hiệu quả giảm triệu chứng bệnh và ngăn ngừa bệnh tái phát. Sản phẩm hiện được các bác sỹ tại các bệnh viện lớn trên cả nước tin dùng.


Sản phẩm Brain Nara

Thành Phần: Gingko biloba Ext : 120mg. Bluebrry Extract(4:1) 50mg Magnesium oxyd: 20mg VitaminB6: 1,5mg Aquamin F: 100mg . (Tinh chất tảo biển chứa 30 %= 30mg canxi) Vitamin D3: 200 UI Vitamin k2: 10mcg Cao dược liệu: 50mg, gồm: Khương hoạt : 100mg Dây đau xương: 100mg Uy linh tiên: 100mg Tục đoạn : 100mg Đỗ trọng: 100mg
Công dụng: Tăng cường lưu thông máu lên não, hỗ trợ điều trị đau đầu, mất ngủ, kém tập trung, sa sút trí tuệ, suy nhược thần kinh, đau dây thần kinh, đau nửa đầu. Hỗ trợ điều trị di chứng sau tai biến mạch máu não, người thần kinh suy nhược lo âu, mất ngủ.
Liều dùng: Dùng theo đường uống: Người lớn và trẻ em trên 12 tuổi: mỗi lần uống 1-2 viên. Uống 2 lần / ngày lưu ý: không dùng cho phụ nữ có thai và trẻ em dưới 12 tuổi.
Naraphar- Tinh hoa từ thảo dược.

Đọc tiếp

KỸ THUẬT CỨU TINH CHO CÁC CẶP VỢ CHỒNG HIẾM MUỘN

Có khoảng 1% cặp vợ chồng không có con do người chồng không may không có tinh trùng trong tinh dịch (y học gọi là vô tinh).

Cứ 100 ông chồng bị vô tinh thì có 70 ông là do tinh hoàn không sinh tinh trùng hay sinh tinh rất kém. Ðiều trị vô sinh cho những người kém may mắn này là một thách thức của các bác sĩ nam khoa.

Làm sao để các tế bào sinh tinh trùng của họ hoạt động trở lại, làm sao để có được tinh trùng, dù chỉ vài con, để họ có thể có con nhờ thụ tinh trong ống nghiệm… là trăn trở của những người đã chọn chuyên ngành nam khoa. Sự ra đời của kỹ thuật vi phẫu trích tinh trùng tinh hoàn (microdissection TESE hay microTESE) giúp tìm ra những con tinh trùng ẩn náu sâu bên trong tinh hoàn thật sự là một cuộc cách mạng trong điều trị vô sinh nam giới.

MicroTESE là gì?

Năm 1999, bác sĩ phẫu thuật tiết niệu – nam khoa Schlegel (người Mỹ) đã giới thiệu một kỹ thuật mới để tìm tinh trùng trong tinh hoàn đối với những người tinh hoàn bị hư, không sinh tinh – đó là microTESE. BS. Schelegel nghiên cứu thấy những trường hợp vô tinh do hai tinh hoàn không sinh tinh thì mô tinh hoàn bị hư hại không đồng nhất, chỗ hư nặng (chẳng còn tế bào sinh tinh nào) và chỗ hư nhẹ (vẫn còn tế bào sinh tinh, thậm chí còn tinh trùng). Tuy nhiên, số tinh trùng này quá ít nên tự chết trong tinh hoàn chứ không kịp bơi một chặng dài, kéo dài khoảng 70 ngày, để ra ngoài khi tinh dịch được xuất ra. Nhờ kính hiển vi phẫu thuật phóng đại mô tinh hoàn, bác sĩ phẫu thuật sẽ “bới móc” toàn bộ mô tinh hoàn để tìm những chỗ còn ống sinh tinh có tinh trùng.

Vi phẫu tích mô tinh hoàn (microTESE) tìm những nơi có ống sinh tinh giãn to, trong đó thường có tinh trùng.

Để dễ hình dung, tinh hoàn người vô tinh giống như sa mạc Sahara, toàn cát. Nhiệm vụ của người bác sĩ nam khoa là tìm ra những ốc đảo có nước, có cây xanh bên trong sa mạc mênh mông đó. Nếu cứ cưỡi lạc đà đi vào sa mạc thì khả năng tìm ra ốc đảo là hầu như không có, nhưng với vệ tinh thám sát bên trên, bác sĩ sẽ định vị được các ốc đảo hiếm hoi đó (hình 2).

Sau khi Schelegel công bố kỹ thuật microTESE, các bác sĩ khắp thế giới đã áp dụng cho những bệnh nhân vô tinh và tất cả đều ghi nhận hiệu quả kinh ngạc của kỹ thuật mổ này. Ở Việt Nam thực hiện thành công kỹ thuật này từ năm 2010.

Làm sao để thực hiện kỹ thuật thành công?

Trang thiết bị vi phẫu không phải là yếu tố quan trọng vì hầu như các trung tâm nam khoa, hiếm muộn đều dễ dàng mua sắm các thiết bị không quá đắt tiền này. Yếu tố quyết định là con người. Để microTESE thành công thì bác sĩ phẫu thuật cần có nhiều kinh nghiệm về vi phẫu và phẫu thuật mô tinh hoàn. Và các kỹ thuật viên tìm tinh trùng đều phải là những người siêu hạng trong việc đọc mô tinh hoàn. Bố trí phòng phẫu thuật, sự đồng bộ của êkíp gây mê, êkíp mổ và êkíp đọc mô tinh hoàn là không thể thiếu.

Tinh trùng kiếm được nhờ microTESE sẽ được làm gì?

Tinh trùng này được sử dụng để làm thụ tinh trong ống nghiệm. Nếu người vợ cũng được chích thuốc kích trứng để làm thụ tinh thì người chồng sẽ được mổ microTESE trước 1 ngày hay cùng ngày vợ được hút trứng. Nếu vợ chưa được kích trứng thì tinh trùng được trữ đông. Khi vợ được tiêm thuốc kích trứng thì tinh trùng sẽ được rã đông để làm thụ tinh nhưng quá trình đông – rã đông có thể làm hư hại một vài tinh trùng quý giá này. Tỉ lệ thành công của thụ tinh trong ống nghiệm với các tinh trùng microTESE cũng tương đương tỉ lệ thành công với các trường hợp dùng tinh trùng trong tinh dịch.

MicroTESE cũng có thể được thực hiện lần thứ 2, thứ 3 nếu như lần mổ đầu bác sĩ mổ tìm thấy nhiều tinh trùng. Do đó, nếu tinh trùng trữ đông không đủ để làm thụ tinh thì bác sĩ có thể mổ microTESE lần nữa cho một số trường hợp.

Biến chứng có thể xảy ra

Đau tức tinh hoàn sau mổ và nhiễm trùng vết mổ bìu là hai biến chứng có thể gặp ngay sau mổ microTESE. Về lâu dài, biến chứng teo tinh hoàn, giảm testosteron không xảy ra do microTESE chỉ lấy ra rất ít mô tinh hoàn nên không làm tinh hoàn bị mất nhiều mô, trong đó có các tế bào tiết ra testosteron.

Khả năng tìm thấy tinh trùng bằng microTESE

Khoảng 60-70% trường hợp vô tinh do hai tinh hoàn teo, không sinh tinh sẽ được tìm thấy tinh trùng bằng kỹ thuật microTESE. Đặc biệt, khả năng tìm thấy tinh trùng ở bệnh nhân bị quai bị làm teo hai tinh hoàn là xấp xỉ 100%. Nếu như trước đây, bệnh nhân bị quai bị làm teo tinh hoàn không thể có con thì nay họ có thể có hạnh phúc làm cha mẹ.

Tinh hoàn teo do ẩn cũng có nhiều hy vọng tìm thấy tinh trùng nhờ microTESE, xấp xỉ 90%. Những người bị bệnh di truyền làm teo tinh hoàn như hội chứng Klinefelter 47, XXY có 50-70% khả năng được tìm có tinh trùng. Người bị bệnh mất đoạn nhiễm sắc thể Y AZFc cũng có 50% được tìm có tinh trùng bằng microTESE.

MicroTESE là kỹ thuật trích tinh trùng hiệu quả và an toàn cho những trường hợp vô tinh do hai tinh hoàn teo. Tinh trùng thu được từ microTESE sẽ được dùng làm thụ tinh trong ống nghiệm và cho kết quả có con tương đương với thụ tinh trong ống nghiệm bằng tinh trùng trong tinh dịch. MicroTESE đã mở rộng chân trời điều trị vô sinh, giúp các cặp vợ chồng bị vô tinh có thể có con của chính mình – điều mà trước đây không thể thực hiện được.

Xem thêm sản phẩm hỗ trợ và điều trị sinh lý nam giới, tăng cường sinh lực, bổ thận, tráng dương, tăng chất lượng tinh trùng  NARA MEN

Thành phần: Hải cẩu pín : 100 mg, bá bệnh : 100mg, thỏ ty tử : 100mg, Tỏa dương: 50mg, khổi tử: 50mg, đồ trọng: 50 mg.

Công dụng: Giúp bổ thận, mạnh gân cốt, tráng dương, tăng nội tiết tố testosterol nam giới, sinh tinh,tăng cường chất lượng tinh trùng. Tăng cường chúc năng sinh lý, tăng ham muốn, giúp giảm xuất tinh sớm,  rối loạn cương dương.

Liều dùng:1-2 viền/lần /ngày. Uống vào buổi sáng và tối trước khi đi ngủ .mỗi đợt dùng từ 10 đên 15 ngày .

Naraphar – tinh hoa từ thảo dược

Đọc tiếp

NGẠC NHIÊN VỚI BÍ QUYẾT CHỮA ĐAU NỬA ĐẦU ĐƠN GIẢN MÀ HIỆU QUẢ

Đau đầu, đau nửa đầu là căn bệnh thường gặp, nó mang đến sự khó chịu và mệt mỏi cho người bệnh. Chỉ với một miếng vỏ chuối, bạn sẽ đẩy lùi cơn đau đầu chỉ trong vài phút.

Khi gặp phải cơn đau nửa đầu bạn sẽ cảm thấy vô cùng nhức nhối kèm theo nhiều triệu chứng như buồn nôn, nôn ói và cực kì nhạy cảm với âm thanh.

Nguyên nhân của chứng đau nửa đầu vẫn chưa được xác định chính xác và mỗi người mắc bệnh thường có lí do cá nhân. Một số người bị dau nửa đầu do thay đổi nội tiết tố, một số do căng thẳng, do nắng nóng hoặc do thay đổi áp suất khi thay đổi môi trường sống.

Thế nhưng may mắn thay, cơn đau đầu đã được vô hiệu hóa một cách nhanh chóng bằng một số phương pháp vô cùng đơn giản. Nếu bạn đang bị chứng đau đầu hành hạ, hãy dùng ngay các phương pháp tự nhiên dưới đây để giải quyết chúng chỉ trong vài phút.

1. Vỏ chuối

Điều kì diệu gì xảy ra nếu bạn đặt một miếng vỏ chuối lên trán trong vòng 3 phút?

                                                                          Đặt miếng vỏ chuối lên trán giảm cơn đau đầu nhanh chóng

Làm lạnh một miếng vỏ chuối bằng cách để chúng trong tủ lạnh hoặc ngâm với đá lạnh sẽ là phương pháp dễ dàng và tuyệt vời nhất cho bạn. Vỏ chuối rất giàu kali nên có thể giúp bạn giảm cơn đau đầu nhanh chóng.

Tất cả những gì bạn phải làm là đặt một miếng vỏ chuối lạnh lên trán và cổ, bạn sẽ thấy cơn đau đầu giảm đi chỉ trong vài phút.

2. Dầu ô liu

Dầu oliu làm giảm cơn đau đầu

                                                                                                      Dầu oliu làm giảm cơn đau đầu

Theo một nghiên cứu được tiến hành bởi các giáo sư tại Adolescent Medicine, dầu ô liu và dầu cá có thể làm giảm tần suất, cường độ và thời gian của chứng đau nửa đầu. Hai loại dầu này chứa một lượng lớn omega-3 – axit béo không bão hòa giúp điều tiết quá trình đông máu và co giãn thành động mạch.

Việc bạn cần làm là thoa một chút dầu ô liu lên trán, massage nhẹ nhàng và cơn đau sẽ giảm đi chỉ trong khoảng 10 phút.

3. Tinh dầu bạc hà

Tinh dầu bạc hà làm giảm cơn đau đầu

                                                                                    Tinh dầu bạc hà làm cơn đau đầu biến mất trong 30 phút

Theo một nghiên cứu tiến hành tại Đại học Thomas Jefferson, một gel tinh dầu bạc hà giúp làm giảm áp lực từ chứng đau nửa đầu sau một vài giờ. Việc bạn cần làm đơn giản chỉ là massage đầu nhẹ nhàng với một chút tinh dầu bạc hà, cơn đau đầu sẽ biến mất sau khoảng 30 phút đến một giờ.

Xem thêm sản phẩm hỗ trợ và điều trị Đau đầu, đau nửa đầu, kém tập trung, thần kinh suy nhược BRAIN NARA

  1. Thành Phần: Gingko biloba Ext : 120mg. Bluebrry Extract(4:1) 50mg Magnesium oxyd: 20mg VitaminB6: 1,5mg Aquamin F: 100mg . (Tinh chất tảo biển chứa 30 %= 30mg canxi) Vitamin D3: 200 UI Vitamin k2: 10mcg Cao dược liệu: 50mg, gồm: Khương hoạt : 100mg Dây đau xương: 100mg Uy linh tiên: 100mg Tục đoạn : 100mg Đỗ trọng: 100mg
  2. Công dụng: Tăng cường lưu thông máu lên não, hỗ trợ điều trị đau đầu, mất kém tập trung, sa sút trí tuệ , suy nhược thần kinh, đau dây thần kinh, đau nửa đầu. Hỗ trợ điều trị di chứng sau tai biến mạch máu não, người thần kinh suy nhược lo âu, mất ngủ.
  3. Liều dùng: Dùng theo đường uống: Người lớn và trẻ em trên 12 tuổi: mỗi lần uống 1-2 viên. Uống 2 lần / ngày lưu ý: không dùng cho phụ nữ có thai và trẻ em dưới 12 tuổi./.

Sản phẩm được sản xuất bởi công ty dược phẩm Nara,

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược.

Đọc tiếp

DÙNG THUỐC CHỐNG RỐI LOẠN CƯƠNG DƯƠNG – NHỮNG NGUYÊN TẮC KHẮT KHE

Ngày nay, dùng thuốc chống rối loạn cương dương không còn là vấn đề xa lạ, ngay cả với nam giới trẻ.

Ngày nay, dùng thuốc chống rối loạn cương dương không còn là vấn đề xa lạ, ngay cả với nam giới trẻ. Mặc dù đã có nhiều cảnh báo về tác dụng phụ nguy hiểm của thuốc nhưng nhiều người vẫn dùng vì những lợi ích mà nó mang lại.

Rối loạn cương dương là tình trạng mất khả năng cương dương vật hoặc mất khả năng duy trì sức cương của dương vật, làm cho bữa tiệc yêu không thể bắt đầu một cách tự nhiên và khó diễn ra được trọn vẹn đến lúc thăng hoa như họ mong muốn. Quý ông thường lâm cảnh “chưa đến chợ đã hết tiền” gây ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý và đời sống tình dục của họ. Nguyên nhân gây rối loạn cương dương có thể là do yếu tố tâm lý như căng thẳng thần kinh, stress… kéo dài. Rối loạn cương dương cũng có thể bắt nguồn từ các bệnh lý, tổn thương trên cơ thể: mắc bệnh mạn tính (tim mạch, tăng huyết áp, tiểu đường, suy thận…). Vấn đề tuổi tác, rối loạn nội tiết, dùng thuốc chữa bệnh (chống trầm cảm, lợi tiểu, an thần…) làm tăng nguy cơ gây rối loạn cương dương.

Một số thuốc chống rối loạn cương dương

Từ năm 1998, với sự ra đời của viagra (hoạt chất sildenafil), việc điều trị rối loạn cương dương đã dễ dàng hơn trước khá nhiều. Từ đó tới nay cũng đã xuất hiện nhiều loại thuốc tương tự (chứa hoạt chất tadalafil, vardenafil) có công dụng rất khả quan, đạt hiệu quả tới trên 50 – 60% trường hợp. Do vậy, chứng rối loạn cương dương không còn là nỗi ám ảnh đối với đàn ông.

Dùng thuốc chống rối loạn cương dương - Những nguyên tắc khắt khe - Ảnh 1

Những viên thuốc chống rối loạn cương dương đều được gọi chung là thuốc ức chế men phosphodiesterase 5. Thuốc làm cho máu đến dương vật nhiều hơn và lưu lại lâu hơn, giúp cho quá trình cương được tốt hơn. Thuốc có nhiều tác dụng phụ nên phải dùng theo chỉ định của bác sĩ và phải thông báo cho bác sĩ biết những loại thuốc đang sử dụng, đặc biệt là các thuốc chứa nitrat để điều trị đau thắt ngực, các thuốc chống đông và các thuốc chẹn thụ thể alpha giao cảm để điều trị u lành tính tuyến tiền liệt và tăng huyết áp.

Dùng thuốc chống rối loạn cương dương cần lưu ý gì?

Có hai cách dùng thuốc đều cho hiệu quả như nhau là: uống thuốc theo nhu cầu, nghĩa là chỉ khi nào có ý định quan hệ tình dục thì mới dùng thuốc và uống thuốc theo liều điều trị hằng ngày. Nếu dùng thuốc theo nhu cầu thì phải dùng thuốc với liều cao mới có tác dụng. Do vậy, cần phải lập thời gian biểu cho “chuyện ấy” để căn thời gian uống thuốc cho phát huy hiệu quả đúng lúc cần thiết. Còn nếu dùng thuốc hằng ngày thì nên dùng thuốc vào lúc chuẩn bị đi ngủ. Ưu điểm của cách dùng này là liều thuốc thường thấp nên sẽ ít gặp tác dụng phụ hơn và không cần phải lên kế hoạch trước cho “chuyện ấy”. Do vậy, tâm lý điều trị sẽ thoải mái hơn. Cho dù dùng thuốc theo cách nào thì cũng không bao giờ được dùng thuốc quá một lần mỗi ngày. Vì như vậy sẽ dễ dẫn đến hiện tượng quá liều thuốc và có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. Và cũng cần phải nhắc lại rằng, chỉ có bác sĩ mới biết bạn dùng thuốc theo cách nào là phù hợp và liều dùng bao nhiêu là hợp lý. Bạn không nên tự ý dùng thuốc.

Khi uống những viên thuốc đầu tiên có thể sẽ thấy hơi đau đầu, ngạt mũi, nóng bừng mặt hay đau các khớp xương hoặc tức cơ, điều này sẽ nhanh chóng qua đi khi dùng những viên thuốc tiếp theo. Nếu những lần sau mà hiện tượng này vẫn còn thì cần báo cho bác sĩ biết để thay đổi loại thuốc khác phù hợp hơn. Nếu trong khi dùng thuốc mà tự nhiên thấy nhìn mờ đi hoặc ù tai thì phải ngừng thuốc ngay và xin ý kiến của bác sĩ.

Đặc biệt, khi dùng thuốc mà thấy dương vật cứ cương cứng mãi và kèm theo là cảm giác đau tức ở dương vật ngày càng tăng thì ngay lập tức bạn phải đến các phòng khám cấp cứu ngoại khoa để khám (càng đến viện sớm càng tốt, tốt nhất là trước 4 giờ từ khi có triệu chứng) vì có thể bạn đang bị cương đau dương vật kéo dài.

Thuốc chống rối loạn cương giúp cương dương nhưng không phải là thuốc kích dục. Việc dùng thuốc sẽ giúp dương vật có thể cương lên được với điều kiện có sự kích thích trực tiếp hoặc ham muốn có sẵn trong não. Thận trọng khi dùng chung với các loại thảo dược với cùng mục đích vì có thể thảo dược đó được trộn với chính hoạt chất có trong thuốc chữa cương dương của Tây y hoặc thảo dược đó làm gia tăng nồng độ thuốc Tây y đến mức nguy hại.

Ngoài ra, không nên dùng nước trái cây, các loại nước khoáng hay nước trà để uống thuốc, đặc biệt không nên ăn nho hay uống nước nho, vì nước nho làm tăng nồng độ của thuốc nên dễ dẫn đến các tác dụng không mong muốn. Cũng không nên ăn những loại thức ăn có nhiều chất béo trong lúc dùng thuốc, vì chất béo làm cản trở sự hấp thu thuốc ở ruột non nên dẫn đến việc giảm tác dụng của thuốc chống rối loạn cương.

Không nên mua các loại thuốc trôi nổi trên thị trường vì các thuốc này không rõ nguồn gốc có thể sẽ gây nguy hại đến sức khỏe thậm chí là tính mạng.

Xem thêm sản phẩm hỗ trợ và điều trị chứng rối loạn cương dương, yếu sinh lý, xuất tinh sớm NARA MEN

Thành phần: Hải cẩu pín: 100 mg, bá bệnh: 100mg, thỏ ty tử: 100mg, Tỏa dương: 50mg, khổi tử: 50mg, đồ trọng: 50 mg.

Công dụng: Giúp bổ thận, mạnh gân cốt, tráng dương, tăng nội tiết tố testosterol nam giới, sinh tinh,tăng cường chất lượng tinh trùng. Tăng cường chúc năng sinh lý, tăng ham muốn, giúp giảm xuất tinh sớm, rối loạn cương dương.

Liều dùng: 1-2 viền/lần /ngày. Uống vào buổi sáng và tối trước khi đi ngủ. Mỗi đợt dùng từ 10 đên 15 ngày .

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược.

Dược phẩm Naraphar nỗ lực mang đến cho bạn đọc những thông tin chính xác và bổ ích nhất. Tuy nhiên khoa học về thân thể người thật rộng lớn và còn nhiều điều y học chưa nhận thức đến được. Do đó, các bài viết tại đây mang tính chất tham khảo. Mọi việc chẩn đoán, điều trị bệnh hay các tình trạng sức khỏe và làm đẹp cần phải có ý kiến các chuyên gia y tế được cấp phép.

Đọc tiếp

CÁCH THỨC CHỮA TRỊ UNG THƯ DO BILL GATES ĐẦU TƯ CÓ KHẢ NĂNG ” KIỂM SOÁT ĐƯỢC MỌI THỨU BỆNH TRUYỀN NHIỄM”, MỞ RA CÁNH CỦA SINH TỒN CHO NHÂN LOẠI

Nhà tỷ phú này sử dụng tiền bạc, công sức và cùng với vợ của mình, bà Melinda Gates, đưa nhân loại lên một tầm cao mới.

Bill Gates đang đánh cược lớn vào các liệu pháp chữa trị ung thư và nếu như những phương cách này mà thành công, nó thậm chí có thể giúp chúng ta “kiểm soát được mọi căn bệnh có thể truyền nhiễm”. Đó là nội dung tuyên bố của ông, với tư cách là đồng chủ tịch Quỹ Bill và Melinda Gates, tại Hội nghị Chăm sóc sức khỏe JP Morgan.

Đây sẽ là chiến thắng lớn của nhân loại – và có tiềm năng trở thành là một thị trường lớn cho những ngành khoa học phục vụ sự sống“, Bill Gates nói.

 

Kể từ khi rời vị trí CEO của Microsoft hồi năm 2006, ông và vợ mình, bà Melinda đã cống hiến thời gian, công sức và tài sản của mình để lập ra một quỹ nhằm giúp đỡ người nghèo trên toàn thế giới. Những kẻ thù chính của họ hiện tại vẫn là những căn bệnh truyền nhiễm mạnh như sốt rét, HIV hay bệnh lao phổi.

Quỹ Gates đã chi hàng tỷ USD cho những công ty nghiên cứu và phát triển các liệu pháp chữa bệnh. Trong bài phát biểu gần đây, Bill Gates nêu lên một số gương mặt sáng giá nhất, những công ty có thể mở đường cho những phương pháp kiểm soát bệnh tật hiệu quả.


Bill Gates và Melinda Gates hồi năm 2009.

                                                                                    Bill Gates và Melinda Gates hồi năm 2009.

Một trong số đó là Immunocore. Nhờ có các khoản đầu tư từ Quỹ Gates, họ phát triển được một công nghệ có thể kích thích hệ miễn dịch của người bệnh. Nó dựa chủ yếu vào những tế bào miễn dịch (T-cell) của con người, tái lập trình nó và sử dụng nó để đánh trả lại tế bào ung thư. Mỗi một người bệnh đều có một cơ thể và một hệ miễn dịch khác nhau, vì thế cách công nghệ này tác động lên từng người cũng khác nhau.

Nhận định ban đầu cho thấy, công nghệ thụ quan tế bào miễn dịch của Immunocore tấn công vào bệnh ung thư, nhưng nó cũng có thể được sử dụng để chữa những căn bệnh truyền nhiễm khác“, Bill Gates nói.

Quỹ Gates cũng nhắm tới những phương pháp chữa trị sử dụng gen khác, ví dụ như cách thức sửa đổi mARN rồi đưa vào cơ thể. Thử nghiệm cho thấy việc sửa mARN rồi đưa chúng vào cơ thể sẽ khiến hệ miễn dịch của cơ thể mạnh mẽ hơn. Billl Gates cũng chỉ ra rằng một thứ vaccine như thế này sẽ rẻ hơn, dễ chế tạo hơn và thậm chí là phân phát nhanh hơn vaccine truyền thống.

Cách thức này sẽ đặc biệt hiệu quả khi kiểm soát dịch lớn, dù nguyên nhân có là bùng phát tự nhiên hay dịch bệnh gây ra bởi các cuộc tấn công sinh học“, ông Gates khẳng định.


mARN có chức năng sao chép thông tin di truyền từ gen cấu trúc đến Riboxom - nơi tổng hợp protein.

                                             mARN có chức năng sao chép thông tin di truyền từ gen cấu trúc đến Riboxom – nơi tổng hợp protein.

Riêng về lĩnh vực vaccine, có hai công ty được Quỹ Gates đầu tư lớn là CureVac và Moderna. Cả hai công ty này đều phát triển cách thức thay đổi mARn và đưa lại vào cơ thể – sử dụng chính các thành phần của cơ thể để chống lại dịch bệnh, một cách chữa trị tự nhiên.

Dựa theo quan sát của một số thành viên làm việc trong các công ty trên, thì công việc của họ đang tiến triển cực kỳ thuận lợi và có một tương lai rất triển vọng. Những nghiên cứu, những review ban đầu đều đem lại những kết quả tốt.

Ở các nước đang phát triển, dịch bệnh truyền nhiễm chỉ là một trong số vô vàn các mối lo khác, ví dụ như suy dinh dưỡng hay môi trường ô nhiễm, mất vệ sinh. May thay, Quỹ Gates vẫn có thể bao quát được những vấn đề ấy và đưa ra các giải pháp hiệu quả. Đây mới là cách một tỷ phú sử dụng tiền của mình để cứu nhân loại, chứ không phải tự may cho mình một bộ đồ hình con Dơi và rình rập trong đêm tối.

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược

Dược phẩm Naraphar nỗ lực mang đến cho bạn đọc những thông tin chính xác và bổ ích nhất. Tuy nhiên khoa học về thân thể người thật rộng lớn và còn nhiều điều y học chưa nhận thức đến được. Do đó, các bài viết tại đây mang tính chất tham khảo. Mọi việc chẩn đoán, điều trị bệnh hay các tình trạng sức khỏe và làm đẹp cần phải có ý kiến các chuyên gia y tế được cấp phép.

Đọc tiếp

TẠI SAO ĐỘNG Y TRỊ ” GỐC” TÂY Y TRỊ ” NGỌN”? HIỂU ĐƯỢC ĐIỀU NÀY BẠN SẼ KHÔNG CÒN TRONG VÒNG XOÁY CỦA BỆNH TẬT NỮA!

Có lẽ cuộc sống chúng ta ngày càng bị phong bế bởi bệnh tật vây quanh. Đến nỗi, nhắc đến khám bệnh ai cũng thấy sợ, sợ vì khám ra bệnh, ra bệnh rồi phải điều trị, trị bệnh này rồi lại phát sinh bệnh khác, cứ lòng vòng vô tận mãi không ngừng. Biết tìm lời giải từ đâu đây?
Xã hội kinh tế phát triển kéo theo nhiều hệ lụy: Ô nhiễm môi trường – từ không khí, nước, cho đến thực phẩm như rau, thịt, trứng, cá… đều nhiễm độc rồi. Bệnh tật phát sinh ngày càng lắm lắm, có bệnh cũng trị nhiều rồi, thuốc cũng không kể cho hết được mà sao bệnh tật ngày càng nhiều thế này? Có kháng sinh giờ cũng đến lúc kháng thuốc rồi, tìm đâu được lối thoát? Đây giường như là thực trạng chung của xã hội hiện tại.

Kỳ thực, “Vật cực tất phản” (Lão Tử), mỗi sự việc, sự vật đều có chu trình tuần hoàn thay cũ đổi mới như “Tân trần đại tạ” của tế bào cơ thể chúng ta vậy. Vật cực nhiệt sẽ biến thành hàn (lạnh), cực hàn rồi sẽ biến thành nhiệt; xã hội giường như đến chỗ bế tắc, nhưng trong bế tắc ấy là có lối thoát, không phải là không có hy vọng, chỉ có điều bạn có nắm chắc lấy cơ hội này hay không thôi! Hành trình cùng chúng tôi xuyên suốt lịch sử y học cổ đại bạn sẽ tìm được “lời giải” cho mình.

                                                                Hành trình xuyên suốt lịch sử y học cổ đại và đưa ra lời giải. (Ảnh:ckw2.orz.hm)

Xin đừng nóng vội, để thông suốt các vấn đề, đảm bảo không dừng lại một chặng đường nào, Dược phẩm Nara chúng tôi sẽ phân “lời giải” thành từng phần để độc giả có thời gian theo dõi và chiêm nghiệm từng chút một. Mở đầu không thể không nói đến Đông y, vì đó là cốt lõi, là cái nôi văn hóa truyền thống đồng hành cùng nhân loại đến ngày nay.

Phần 1: Bàn về cái nhìn tổng trạng của Đông y đối với cơ thể

Lý luận theo Đông y, luôn luôn tâm niệm rằng mọi sự vật chỉ là một khía cạnh, một giác độ, một bộ phận, và rằng sự ấy vật ấy chỉ có lý do tồn tại khi nó được đặt vào bối cảnh của chính nó, với cái toàn thể mà nó là một

hành phần. Ví như tạng thận chỉ là một bộ phận của cơ thể hoàn chỉnh, nó tồn tại vì lý do chức năng của nó trong cơ thể. Lý luận theo đường hướng ấy thì bắt buộc phải nương tựa vào phương pháp tổng hợp, chứ không chỉ nhìn sự vật rời rạc mà không biết nhận chân (nhận ra sự chân thực) sự liên quan mật thiết trong vạn vật, vốn dĩ chằng chịt, đan xen nhau như tạng phủ, kinh lạc trong cơ thể sống.

                                        Tạng phụ, kinh lạc và nội ngoại môi là một hệ thống liên quan chặt chẽ mà không hề tách rời. (Ảnh: PinsDaddy)

Bởi lẽ, mọi sự vật đều biến đổi, dịch hóa liên tục cho nên trong môi trường sinh hoạt của nhân loại, bất cứ vật gì cũng chỉ là tương đối, không thể có gì là tuyệt đối, đến tinh khiết như vàng cũng chỉ là 99,99 chứ không thể là 100. Làm thế nào có nổi một danh hiệu, một ý tưởng, một luận cứ, một kỹ thuật, một khoa học có tính cách tuyệt đối, khi mà chính bản thân chúng đã chỉ là những sản vật, những hệ thống tương đối, khi mà chính bản thân chúng luôn luôn ôm ấp trong bản chất tình trạng đối đãi phản nghịch của chính chúng, như đồ gốm cứng nhưng dễ vỡ, thép dai nhưng dễ han gỉ, vì lẽ biến dịch âm dương.

Vì vậy, ta không nên ngạc nhiên khi thấy người y sĩ phương Đông luôn luôn nhìn con người bệnh tật dưới nhãn quan toàn diện, hơn thế nữa, còn sẵn sàng đồng hóa thân thể với vũ trụ bên ngoài.

Nếu ở bên ngoài, giới tự nhiên theo sinh, trưởng, hoại, diệt thì ở bên trong, các chức năng của cơ thể cũng sinh, trưởng, tiêu, vong. Nếu Lão Trang quan niệm “Vạn vật dữ ngã duy nhất” (vạn vật với ta cùng là một), “Vạn vật độc nhất thể” (vạn vật cùng một thể) thì Đông y cũng song song chủ trương “Nhân thân tiểu thiên địa” (thân người là trời đất nhỏ), hoặc “Thiên nhân hợp nhất” (người và trời hợp một). Con người không thể nào tách rời ra khỏi giới tự nhiên để cô độc tồn tại và luôn luôn chịu ảnh hưởng của ngoại môi (môi trường bên ngoài); ngược lại, cũng có phần nào ảnh hưởng đến vũ trụ thông qua hoạt động của mình.

                                                                              Con người hòa với vũ trụ làm một thể. (Ảnh: Cliparts Suggest)

Đối với từng cơ thể một thì cái nhìn của y lý cổ truyền phương Đông cũng là một cái nhìn bao quát, toàn cảnh bởi vì “Tuy thủ túc dị nhậm, ngũ tạng thù quan” (tay chân khác việc, năm tạng khác chức) nhưng chúng vẫn là “Thường tương vi nhi biểu lý đãn tế”, từng cùng giúp nhau như trong ngoài biểu lý (Quách Tưởng chú thích Trang Tử).

Sự khác nhau giữa chức năng của tay chân, của can phế chẳng qua chỉ là do cái tính phận (tính chất chức năng bộ phận) của từng thành phần cơ thể, chỉ là một sự khác nhau cần thiết cho sự điều hòa sinh lý chính thường toàn thân, giống như trong một ban đại hòa tấu, mỗi âm thanh, mỗi nhạc khí có thể, và cần phải khác nhau, nhưng có khác nhau thì mới cùng nhau hòa điệu được. Điểm quan trọng là tuy khác “tính” nhưng mỗi tạng phủ, mỗi tổ chức phải “Các tư kỳ nhậmcác đương kỳ năng” (làm tròn nhiệm vụ, làm đúng khả năng: Quách  Tượng) trong cộng đồng cơ thể.

Kết quả là Đông y thực tình không thể nào tưởng tượng nổi trong cái học về sự sống, chất sống, người ta lại có thể chia nhau, anh  học cơ quan, chức phận này, tôi học tạng phủ, bộ máy kia rồi khi cần thì đem ráp cái biết của tôi, cái biết của anh vào với nhau để làm công việc mệnh danh là chẩn đoán bệnh tật hay khảo sát sinh lý. Đông y là xét toàn diện mối quan hệ chặt chẽ của các cơ quan chức năng, vì vậy Đông y khám trị bệnh là tổng thể.

                                                             Đông y xem mạch biết tình trạng tổng thể cùa các cơ quan tạng phủ một cách chính xác. 

Dẫn chứng cụ thể nhất cho luận cứ này là ý nghĩa của mạch chẩn: Dù chỉ chuyên về bệnh phụ nữ hay về thai sản, người lương y vẫn phải luôn luôn chẩn đoán bệnh tật trên toàn thể thân người qua phép bắt mạch, bởi mạch chính là cái gương phản chiếu tổng trạng, không bỏ sót cơ quan nào trong nội môi. Đấy là ta chưa nói đến bước đường cuối cùng của y thuật, tức là chữa trị bệnh tật: Đông y không bao giờ cho phép chỉ chữa riêng một chức năng, trái lại, trong điều trị bệnh kinh nguyệt chẳng hạn, lương y sẽ phối hợp những thuốc nhằm giúp kiện  toàn  tỳ vị, trấn định tinh thần và tăng cường lưu thông khí huyết.

Vì rằng các cơ quan tạng phủ là quan hệ chặt chẽ với nhau theo quan hệ tương sinh tương khắc của ngũ hành, một cơ quan nào đó bệnh không liên quan đến các cơ quan khác? Là độc lập? Nên cũng dễ hiểu, trị bệnh này cơ quan này tưởng chừng như xong rồi nhưng một thời gian những bộ phận kia, cơ quan kia lại phát bệnh. Cũng giống như bình thông nhau, chỉ lo nhấn phần nước bên này xuống mà không biết bên kia đã tràn rồi vậy.

Có một con chim đại bàng và một con rùa cùng muốn quan sát một vật nào đó, một cái bàn chẳng hạn. Con rùa bò lổm ngổm trên bàn, theo một chiều hướng nào đấy và gặp một cái bình. Nó ghi nhận sự kiện ấy, lại bò xa hơn, luôn luôn không chiều hướng rõ rệt, vấp phải một cái gạt tàn thuốc, rồi cứ tiếp tục như thế và dần dà thiết lập được một bản liệt kê những vật dụng nó gặp liên tiếp, nhưng không bao giờ biết được chắc rằng bản danh mục của nó sẽ đầy đủ hay không, bởi khi khởi đi nó không hề ý thức nổi kích thước của cái bàn, điều này cũng dễ hiểu khi nhận thấy rằng hôm nay dò dẫm được thực phẩm này có lợi, ít lâu sau đó nó lại được công bố là có hại, dần dà không còn biết ăn gì nữa phải không? Chim đại bàng, trái lại, khởi đầu tung cánh lên cao để quan sát trước hết toàn bộ cái bàn, ghi nhận những biên giới của bàn, số lượng, bản chất các vật dụng trên bàn cùng mối tương quan giữa chúng với nhau, rồi sau đó, mới trao cánh hạ mình đến gần từng vật dụng một để khảo sát mỗi vật dụng một cách chi tiết hơn.

                        Con rùa sẽ có bản tổng thể khi đi dò tìm từng vật dụng một trên bàn, và bản tổng thể sẽ thay đổi khi nó dò tìm được một cái mới. 

Qua hai con vật tượng trưng ấy, chúng ta chắc chắn đã nhận ra những bước chân nghịch chiều của hai phương pháp phân tích và tổng hợp, cũng như tiến trình chuyển dịch từ phương pháp này qua phương pháp kia. Khởi đi từ một loạt những phân tích riêng rẻ – mà số lượng bắt buộc là bị hạn chế, thì phép tổng hợp trong tình cảnh con rùa không thể trọn vẹn và cứ đành phải sửa đổi mãi, dựa vào những phát giác mới của con vật loài bò sát. Trong khi sự phân tích tiếp theo của tổng hợp tiên quyết, theo lề lối của chim đại bàng thì sẽ là vĩnh viễn, trọn vẹn vì nó chiếu cố đến cả toàn thể vấn đề.

Lợi điểm to lớn của đường hướng tổng hợp là người thầy thuốc nắm vững tinh thần y lý phương Đông, có khả năng phát giác một bệnh tật trước khi chúng xuất hiện dưới hình thức lâm sàng bằng nghệ thuật chẩn mạch định tính, có thể có khả năng chữa lành được cho người bệnh khi bệnh nhân chưa hề đau ốm. Nhưng đáng tiếc ngày nay y sinh chỉ học lý thuyết nhiều mà rất ít thực hành, học mười mà chỉ dùng hai, mạch lý cũng chỉ còn là lý thuyết trên giấy vở, ngũ hành cũng chỉ còn là hình thức, còn mấy ai hiểu nổi ngũ hành, chẩn đoán điều trị đều phải dựa vào giải phẫu, có bệnh rồi mới biết, tâm cũng không còn hòa điệu với bệnh nhân rồi, thật đáng buồn thay!

                                                                    Đại bàng quan sát mọi vật một cách bao quát tổng thể rồi mới vào chi tiết.

Bàn về sự trao truyền y lý cũng là có khác biệt rất lớn:“Khả dĩ ý hội bất khả dĩ ngôn truyền” (có thể lĩnh hội bằng ý chứ không thể lĩnh hội bằng lời); thực vậy, không một danh sư nào có khả năng giảng dạy được hết và nhất là từng trường hợp bệnh lý cho môn sinh, vì bệnh tật thì thiên hình vạn trạng, mà mỗi ca bệnh lý lại là một ca riêng rẽ, không ca nào giống ca nào kể cả những ca cùng xảy ra trên cùng một cá nhân và cùng do một nhân tố gây bệnh. Vậy thì học y khoa chỉ có thể là hội ý, đọc y thư chủ yếu là đọc giữa các hàng chữ.

Cho nên lề lối đào tạo y sĩ của phương Đông ta xưa có một nét đặc biệt: Y sinh không cần phải phí quá nhiều công sức và thời lượng để học hỏi những bộ môn nay ta gọi là “khoa học căn bản”, mà thường tiếp xúc ngay với bệnh nhân, làm quen liền với bệnh tật, tập làm luôn các bệnh án. Đây là một quan niệm giảng huấn y khoa có thể xem là con đẻ của tư tưởng Lão Trang, vốn rất trọng cái Dụng, và trong trường hợp này là cái Dụng của tri thức y khoa: Là y sĩ, đương nhiên phải biết bệnh tật nhiều hơn bất cứ điều gì khác, bởi lẽ giản dị trị bệnh, ngừa bệnh là cái dụng của y Đạo. Ở đây, không thể có những tri thức thừa thải liên hệ đến các vấn đề mà có khi trọn đời phục vụ nghề nghiệp, người thầy thuốc không hề có dịp dùng đến. Ở đây, danh sư giảng dạy y học cho y sinh không ai ngoài chính bản thân bệnh nhân, và người lương y trước hết là một nhà lâm sàng giỏi.

Chính lề lối đào tạo y sĩ trong đường hướng đặt rất nặng tự học tập y khoa trên bản thân bệnh nhân ấy cắt nghĩa phần nào một vài khía cạnh truyền y thuật, chẳng hạn khả năng của các châm y có thể nhận định những huyệt vị chỉ lớn chưa đến một ly vuông trên làn bì phu (da) mênh mông một cách chính xác rất tài tình trong khi các đồ hình châm cứu học lại rất thô sơ và các điểm tựa cơ thể học thì lại ít được Đông y chú ý đến. “Trăm hay không bằng tay quen” chính là vũ khí sắc bén nhất và thích ứng nhất cho khoa châm để vĩnh truyền bí thuật. Mà thực ra thì cũng chỉ có mỗi một loại vũ khí ấy là có thể đáp ứng được nhu cầu tập nghệ vừa sinh động vừa thực tiễn của Đông y. (Còn tiếp)

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược

Dược phẩm Naraphar nỗ lực mang đến cho bạn đọc những thông tin chính xác và bổ ích nhất. Tuy nhiên khoa học về thân thể người thật rộng lớn và còn nhiều điều y học chưa nhận thức đến được. Do đó, các bài viết tại đây mang tính chất tham khảo. Mọi việc chẩn đoán, điều trị bệnh hay các tình trạng sức khỏe và làm đẹp cần phải có ý kiến các chuyên gia y tế được cấp phép.

Đọc tiếp

TÁC DỤNG CỦA HOA ĐU ĐỦ ĐỰC CHỮA UNG THƯ VÀ CÁC BỆNH KHÁC

Đu đủ có nguồn gốc ở các vùng Mỹ latinh, có thể là Mehico và được phổ biến ở tất cả các nước nhiệt đới nhờ nhân giống dễ dàng bằng hạt. Trong các vườn gia đình của nước ta, cây Đu đủ trở thành một trong những cây ăn quả được trồng phổ biến nhất sau Chuối. Tòan cây Đu đủ có nhiều dược tính tốt dùng trong đông y và tây y.

Đu đủ – Carica papaya L., Thuộc họ Đu đủ – Caricaceaea. Cây có thân gỗ mềm, dễ bị gãy, thường có một ngọn, nhưng nếu ngọn chính bị gãy thì sẽ sinh ra 3 -4 ngọn khác. Lá có cuống dài, phiến lá chia nhiều thùy sâu. Cây thuộc dạng đa tính; Các cây đực có hoa đực và hoa lưỡng tính, các cây cái có hoa cái và hoa lưỡng tính. Quả kết từ hoa cái thường tròn. Khỏang rỗng trong quả to, thịt mỏng, nhiều hạt. Còn các quả kết từ hoa lưỡng tính thì dài hình quả lê, có khi có những quả dị dạng do số lá noãn không phải là 5 như binh thường mà chỉ có 2 hoặc 3 , có khi đến 9 -10 lá noãn hợp lại thành bầu một ô; thịt dày và chứa ít hạt. Quả khi còn non màu xanh lục, khi chính màu vàng cam.

cay-du-du-1

Cây đu đủ cái

Hoa Đu đủ đực dùng làm thuốc thường hái và khi hoa nở trong năm, phơi khô hoặc sấy khô dùng. Trong dân gian hoa đủ đực thường dùng làm thuốc chữa ho, ho gà, ho mất tiếng,  hạ sốt ( phối hợp với các vị thuốc khác hoặc hấp đường ). Đông y sử dụng trị giun sán, sỏi thận, Chữa đái rắt, nước tiểu ít, đau niệu đạo,

Thành phần trong hoa Đu đủ rất đa dạng các chất trong hoa chủ yếu là Hợp chất organo-sulfur được gọi là isothiocyanates tìm thấy rất nhiều trong hoa đu đủ đực. Một vài thí nghiệm trên động vật cho thấy isothiocyanates bảo vệ cơ thể chống lại bệnh ung thư vú, ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư ruột kết và ung thư tiền liệt tuyến cũng như bệnh máu trắng.

Cây đu đủ đực

Cây đu đủ đực

Các nhà khoa học đã nghiên cứu thực tế trên cơ thể người từ hoa đu đu có thể phòng ung thư ở người bởi isothiocyanates có khả năng ngặn chặn sự lan truyền và phát triển của tế bào ung thư.

Tại đại học Tokyo Nhật Bản các nghiên cứu đã làm rõ được cơ chế hoạt động của 1 loại isothiocyanate tìm thấy trong đu đủ, có tên BITC, là cơ sở cho mối liên quan giữa sự điều chỉnh của sự tái tạo và chết đi của tế bào. Khi tế bào ung thư chết đi, chúng sẽ không còn là vấn đề nữa.

Một số bài thuốc từ hoa Đu Đủ:

1 – Điều trị ung thư vú, ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư ruột kết và ung thư tiền liệt tuyến.

Hoa đu đủ đực phơi khô, sao vàng hạ thổ, dùng trong 1 tháng với liều lượng : 100gr hoa đủ đực, 2 lít nước sắc còn 3 chén, uống làm 3 lần trong ngày trước hoặc sau khi ăn.

Kết hợp với một số dược liệu như Xáo tam phân, nấm lim xanh, xạ đen để có kết quả tốt hơn.

2- Chữa đái buối, rắt, đau niệu đạo, nước tiểu ít và đỏ kết hợp với các vị thuốc

Dùng 40g hoa đu đủ đực, lá bạc thau 50g, đậu đen 40g, phác tiêu 4g. Sắcvới 1lít nước cô đặc, chia làm 3 lần uống vào lúc đói bụng.

3- Điều trị  sỏi thận

Dùng 30g hoa của cây đu đủ đực, giã nhỏ, đem nấu sôi lên, lọc cặn và uống hàng ngày.

4- Chữa ho, viêm cuống phổi, mất tiếng

Hoa đu đủ đực 15g, lá hẹ 15g, hạt chanh 10g, nước đun sôi để nguội 20ml. giã nhuyễn cho thêm nước. Thêm ít mật ong hoặc đường kính, uống làm 3 lần trong ngày.

5- Chữa ho gà

Hoa đu đủ đực 20g, sao vàng; vỏ quýt lâu năm 20g; vỏ rễ dâu 20g, tẩm mật sao; bách bộ 12g; phèn phi 12g. Tất cả tán nhỏ, rây bột mịn, ngày uống 3 lần: trẻ em 1-5 tuổi, mỗi lần 1-4g; 6-10 tuổi, mỗi lần 5 – 8g.
6- Chữa ho kèm theo mất tiếng

Hoa đu đủ đực 15g, lá hẹ 15g, hạt chanh 10g. Tất cả để tươi, nghiền nát rồi hòa với 20 ml nước, thêm ít mật ong hoặc đường cát trộn đều, uống làm 3 lần trong ngày. Dùng trong 3 – 5 ngày.

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược.

Đọc tiếp

BẤT NGỜ: BÀI THUỐC CỦA NGƯỜI NGA TRỊ VIÊM LOÉT DẠ DÀY CHỈ 7 NGÀY LÀ KHỎI.

Thông tin này có thể khiến bạn bất ngờ, bởi vì loại thực phẩm sau đây có thể chữa viêm loét dạ dày chỉ trong một tuần, còn tiêu chảy và viêm ruột thừa thì chỉ mất 5 giờ là khỏi.

 

Vào tháng 12-1999, một tạp chí của Nga đã đăng tải bài viết The Forgotten Hippocrate and treatment plants do một thầy thuốc y học cổ truyền tên GI Glubokog biên soạn. Trong đó có nêu một phương pháp chữa lỵ, tiêu chảy, tả, viêm ruột thừa được chứng nhận hiệu quả và đã được cấp bằng sáng chế.

Ông dùng một loại nguyên liệu duy nhất là vỏ lựu khô, các triệu chứng của nhiễm trùng dạ dày và đường ruột sẽ nhanh chóng bị loại bỏ.

I. Nguyên liệu:

  • 10-12g vỏ lựu phơi khô,
  • 200ml nước sôi.

II. Thực hiện: 

  • Bước 1: Vỏ lựu phơi khô cho vào ly nước sôi đã chuẩn bị sẵn.
  • Bước 2: Dùng nắp đậy kín.
  • Bước 3: Để yên hỗn hợp trong vòng 25-30 phút. Vậy là bạn đã hoàn thành xong công thức nước trị các căn bệnh về đường tiêu hóa, dạ dày.

III. Cách sử dụng

1. Cách sử dụng khi bị kiết lỵ, tiêu chảy, sốt thương hàn, dịch tả, viêm ruột thừa cấp tính

Sau 25-30 phút ngâm, bạn hãy uống nửa ly nước (100ml). Sau 10 phút, nếu các triệu chứng thuyên giảm, chứng tỏ công thức này đã phát huy tác dụng và bạn không cần phải uống nữa. Tuy nhiên, nếu chưa bớt, bạn hãy tiếp tục uống nửa ly nước còn lại sau 3 giờ. Bạn sẽ cảm nhận được kết quả sau 5 tiếng uống loại nước này.

2. Cách sử dụng để chữa viêm loét dạ dày, loét ruột non và viêm đại tràng

Bạn lấy nửa ly nước (100ml) chia thành 4 phần bằng nhau, mỗi phần 25ml, uống lần đầu tiên vào buổi sáng lúc bụng đói, tương tự áp dụng vào trưa, chiều và tối trước khi đi ngủ.

Để hiệu quả, hãy uống nước này mỗi ngày, chỉ trong 7 ngày các triệu chứng viêm loét dạ dày, ruột non, đại tràng sẽ lành hoàn toàn. Tuy nhiên, nếu muốn tiếp tục điều trị, bạn có thể thực hiện theo liệu trình 1 tuần uống, 1 tuần nghỉ.

Vỏ lựu phơi khô.

Lưu ý:

  • Để công thức trên phát huy tác dụng toàn diện, hãy chọn những quả lựu sạch, không hóa chất, lột lấy vỏ và phơi khô để sử dụng dần.
  • Trong quá trình thực hiện, người bệnh tuyệt đối không được uống rượu bia, còn lại ăn uống hoàn toàn bình thường.

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược.

Nguồn Healthy Life Tricks

Đọc tiếp

GIẢI ĐỘC GAN CHỈ 2 NGÀN ĐỒNG MỖI NGÀY, AI KHÔNG BIẾT PHÍ CẢ ĐỜI

Hãy giải độc gan ngay hôm nay chỉ với 2 ngàn đồng mỗi ngày, vừa rẻ tiền lại hiệu quả giúp bạn sở hữu một sức khỏe vàng.

Gan nằm vị trí phía trên và bên phải của bụng và đó là nội tạng lớn nhất trong cơ thể con người, vì thế gan có nhiệm vụ rất quan trọng.

Máu phải đi qua gan để lọc sạch trước khi truyền đi bất cứ cơ quan nào trong cơ thể chúng ta.

Vì vậy, nhiệm vụ của gan là loại bỏ các chất thừa thải, các độc tố ra ngoài cơ thể, sử dụng triệt để các chất dinh dưỡng của thực phẩm và giúp việc trao đổi chất trong cơ thể được tốt hơn.

Chính vì vậy, việc chúng ta có một biện pháp cụ thể nào đó sau sẽ giúp gan tăng cường chức năng thanh lọc độc tố là một việc sống còn để quan trọng để bảo vệ sức khỏe của chính mình.

Uống sữa đậu nành giúp thải độc gan hiệu quả.

Cây tầm ma

Nhờ có thuộc tính lợi tiểu, cây tầm ma làm tăng sản sinh nước tiểu, loại bỏ độc tố ra khỏi cơ thể và làm sạch thận.

Nó loại bỏ các chất thải trong quá trình trao đổi chất và thúc đẩy bài tiết qua thận. Bạn có thể uống trà cây tầm ma cho thêm gừng và mật ong.

Mùi tây

Mùi tây là loại thảo dược lợi tiểu có thể làm sạch thận một cách hiệu quả. Nó giúp loại bỏ vi khuẩn và mầm bệnh ra khỏi thận.

Uống vài ly nước ép rau mùi tây trong vài tuần, bạn sẽ có được kết quả đáng ngạc nhiên. Loại thảo dược này cũng có thể cho vào món sa lát.

Nước ép nam việt quất

Nam việt quất giúp loại bỏ các nhiễm trùng đường tiết niệu.

Nó cũng có hiệu quả làm sạch thận. Nó giúp loại bỏ canxi oxalat dư thừa, vốn là nguyên nhân chính góp phần gây sỏi thận. Uống nước ép nam việt quất cũng có thể giảm dính bàng quang.

Nước chanh

Nước chanh là một trong những bài thuốc tốt nhất giảm nguy cơ hình thành sỏi thận. Tính axit của chanh làm tăng hàm lượng citric trong nước tiểu và ngăn chặn sỏi thận hình thành.

Do vậy, uống nước chanh vào sáng sớm rất tốt cho sức khỏe.

Sữa đậu nành

Sữa đậu không chỉ bổ dưỡng, ít calo mà còn rất hiệu quả trong việc đốt chất béo trong cơ thể.

Protein, isflavones, glycosides và các thành phần khác trong đậu nành kích thích việc đốt chất tế bào mỡ tích tụ trong gan trong cơ thể.

Ngoài ra, đậu nành là thức uống dinh dưỡng giúp bạn bài trừ độc tố khỏi cơ thể một cách hiệu quả.

Dược phẩm Nara giới thiệu sản phẩm đặc biệt giải độc Gan: Nara Liver

Thành phần:

Xạ đen: 300mg, cà gai leo: 100mg, silymanin: 50mg, giảo cổ lam : 300mg, diệp hạ châu: 200mg, biotine: 5mcg, Vitamin b1: 2mg, vitamin b6: 2mg, vitamin b12: 2mcg, phụ liệu: vừa đủ

Công dụng:

Tăng cường chức năng giải độc gan, giúp bảo vệ tế bào gan, hạn chế tổn thương tế bào trong những trường hợp men gan tăng cao, làm giảm các triệu chứng của gan như: vàng da, vàng mắt, đau tức hạ sườn phải, chướng bụng, sợ đồ ăn có dầu mỡ, giảm cân bất thường, ăn uống khó tiêu, nước tiểu có mầu sẫm, đi ngoài phân lỏng, nát.

Cách dùng:

Sản phẩm dùng cho người men gan cao, viêm gan, viêm gan B, xơ gan, gan nhiễm mỡ: Uống 2 viên/lần, 2 lần /ngày. Uống sau ăn.

Tăng cường chức năng giải độc gan: uống 1 viên / lần, ngày 2 lần. Uống sau ăn.

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược

Đọc tiếp

CẢNH BÁO: KHI CÓ DẤU HIỆU NÀY, HÃY COI CHỪNG BẠN ĐÃ MẮC BỆNH MỠ MÁU CAO

Mỡ máu cao hiện nay được xem là bệnh tấn công sức khỏe và tính mạng nghiêm trọng hàng đầu. Để biết rõ bệnh và cách phòng tránh, hãy dành thời gian xem bạn đã có dấu hiệu này chưa?

Hiện nay, quốc gia láng giềng Trung Quốc đã có tới gần 30 triệu bệnh nhân mắc bệnh mỡ máu cao. Chúng ta đều đã biết, bệnh mỡ máu cao chính là nguyên nhân đầu tiên và lớn nhất gây ra bệnh mạch vành, đột qụy, nhồi máu cơ tim, tử vong đột ngột và các bệnh nguy hiểm khác.

Vậy, bạn có biết những triệu chứng sớm của bệnh mỡ máu cao hay chưa? Cần làm gì để giảm lượng mỡ trong máu? Sau đây là đúc kết từ những kinh nghiệm của chuyên gia tim mạch hàng đầu Trung Quốc, bạn hãy dành thời gian tham khảo cẩn thận.

Theo giáo sư Tiền Hiếu Hiền, Giám đốc khoa Nội – Tim mạch, Bệnh viện số 3 Trung Sơn, Trung Quốc, có 5 đặc điểm nổi bật này chứng tỏ bạn có thể đã mắc bệnh mỡ máu (tăng lượng lipit trong máu hoặc cholesterol cao).

Những hiểu biết sai lầm cần tránh

1. Uống gấp đôi liều lượng thuốc hạ mỡ máu đồng nghĩa với hiệu quả hạ mỡ máu gấp đôi

Giáo sư Tiền cho biết, điều trị để giảm mỡ máu là một quá trình lâu dài, nó khác với hạ huyết áp, thuốc hạ lipid nếu chẳng may bị quên uống mà bỏ lỡ một hoặc hai lần cũng không quan trọng, miễn là tuân thủ việc uống thuốc lâu dài thì sẽ có thể đạt được kết quả.

Chẳng hạn như loại thuốc chứa thành phần statins, hiệu quả hạ lipid của nó không phải do tăng gấp đôi liều thuốc thì việc hạ tỉ lệ mỡ máu sẽ đạt hiệu quả gấp đôi, nhưng theo nguyên tắc nếu uống 6% liều thì hiệu quả giảm mỡ máu cũng đạt 6%.

Ví dụ, ban đầu bạn uống 10mg thuốc đã có thể làm giảm mỡ máu, nhưng sau đó uống 20mg cũng chỉ có thể giảm 6%, rồi nếu tiếp tục tăng liều lên tới 40mg thì vẫn chỉ giảm 6% mỡ máu mà thôi.

Đây là lý do tại sao bác sĩ không khuyên bệnh nhân nên dùng thuốc liều cao.

3 dấu hiệu chứng tỏ mỡ máu bất thường

  • Tổng cholesterol trong huyết thanh hoặc có mật độ thấp hoặc cao hơn mức bình thường;
  • Mức Triglyceride cao hơn bình thường;
  • Mức cholesterol lipoprotein mật độ thấp hạ xuống ở mức thấp.

2. Mỡ trong máu cao tức là mức triglycerides cao?

Mức Triglyceride chỉ cao trong trường hợp người bệnh bị rối loạn lipid máu, đặc biệt là ở những người trẻ tuổi.

Nhiều người còn bị nhầm lẫn giữa việc mỡ máu cao thì mặc định là đã mắc bệnh mỡ máu cao. Điều này không hẳn khoa học.

Bởi trong cùng một thời điểm, có thể bạn bị “rối loạn lipid máu” hoặc là mỡ máu cao tạm thời, không chắc là đã mắc bệnh mỡ máu cao.

Mỡ máu là tập hợp các chất béo có trong máu, chủ yếu bao gồm cholesterol và triglycerides.

                                                                             Mỡ máu cao sẽ gây ra các bệnh về tim mạch, dẫn đến tử vong

3. Có phải mỡ máu càng thấp càng tốt?

Giáo sư Tiền nhấn mạnh rằng, quan niệm tỉ lệ mỡ trong máu càng thấp càng tốt cũng là một sai lầm, không hoàn toàn chính xác.

Hiện nay trong giới học thuật vẫn duy trì hai quan điểm, một là mỡ máu càng giảm ở mức độ càng thấp càng tốt. Quan điểm thứ 2 là tỉ lệ mỡ máu nằm ở mức cho phép là tốt. Nhưng riêng quan điểm của giáo sư Tiền thì mỡ máu dù hạ đếm mức nào cũng không phải là đủ.

Ở Trung Quốc, có gần 300 triệu người bị mắc chứng rối loạn lipid máu, theo từng mức độ nguy hiểm có thể chia thành các nhóm như: nguy cơ rất cao, nguy cơ cao, nguy cơ và nguy cơ thấp.

Trong đó, nhóm nguy cơ và nguy cơ thấp đã có tỉ lệ cao tới 70% đến 80%. Nhưng nhóm nguy cơ cực cao và nhóm nguy cơ cao khả năng giảm tỉ lệ mỡ máu chỉ đạt khoảng 30% đến 40%. Điều đó có nghĩa là người có nguy cơ mỡ máu cao đang tăng lên trong khi người có thể giảm xuống lại rất thấp, từ đó sẽ làm tăng tỉ lệ người mắc bệnh khó chữa khỏi.

Ngoài ra, nếu muốn giảm tỉ lệ mỡ máu xuống ở mức thấp cũng rất khó khăn, một trong những lý do là cơ thể bên trong vẫn hấp thụ mỡ, một lý do khác là mỡ máu cao có thể đạt đến sự cân bằng.

Việc sử dụng thuốc hạ mỡ máu hiện nay mới chỉ là để ức chế sự tổng hợp của gan, điều này sẽ khiến cho bệnh mỡ máu cao khó giải quyết ngay trong ngắn hạn.

Việc điều trị cần sự kiên trì bền bỉ, vì thế lời khuyên tốt nhất dành cho bạn vẫn là việc áp dụng các giải pháp phòng tránh bệnh hiệu quả. Thay đổi thói quen sinh hoạt chưa phù hợp, cải thiện thực đơn ăn uống, tăng cường vận động, duy trì trạng thái sức khỏe tâm sinh lý ổn định.

                                                       Bệnh mỡ máu cao bùng phát ngày càng nhiều do thói quen ăn quá nhiều dầu mỡ.

5 dấu hiệu cho thấy bạn có thể đã mắc chứng mỡ máu cao

Thứ nhất, khi mới chớm mắc bệnh mỡ máu ở mức độ thấp, thường người bệnh không có sự khó chịu, nhưng không có triệu chứng không có nghĩa là bạn không mắc bệnh mỡ máu không cao, vì thế, cần thường xuyên kiểm tra lipid máu là việc rất quan trọng, đặc biệt là những người có nguy cơ cao.

Thứ hai, các biểu hiện chung nhất của sự tăng lipid máu thường là gây chóng mặt, mệt mỏi, mất ngủ, giảm trí nhớ, hay quên, tê tay… chúng đều là những dấu hiệu rất dễ bị nhầm lẫn với các căn bệnh khác. Ngoài ra, tăng lipid máu thường kèm theo thừa cân và béo phì.

Thứ ba, khi tình trạng mỡ máu đã tăng cao nghiêm trọng sẽ xuất hiện tình trạng tức ngực, thở gấp, hụt hơi, đau ngực, nghẹt mũi, không thể nói và các triệu chứng khác, và cuối cùng dẫn đến bệnh mạch vành, đột quỵ và các bệnh nghiêm trọng khác.

Thứ tư, mỡ máu cao lâu ngày sẽ gây ra chứng xơ vữa động mạch, dẫn đến bệnh mạch vành và bệnh mạch ngoại biên, biểu hiện như mạch đập đứt quãng, chân đi không vững hoặc khập khiễng, đau thắt ngực và các triệu chứng khác.

Thứ năm, một số ít bệnh nhân bị tăng lipid máu sẽ còn xuất hiện sự thay đổi của vòm giác mạc và chứng thay đổi ở vùng đáy mắt do tăng lipid máu. Khung hình giác mạc, còn được gọi là “bệnh lão hóa mắt”, nếu bệnh nhân dưới 40 tuổi, thì có thể xem là chắc chắn đã mắc bệnh mỡ máu cao.

Giới thiệu sản phẩm đặc biệt hỗ trợ và điều trị bệnh mỡ máu: Choles Nara

Thành phần:Cao chiết lá sen : 350mg, Cao chiết táo mèo: 100mg, men gạo đỏ: 50mg, tinh chất tỏi tía: 10mg, phụ liệu: vừa đủ

Công dụng:Giúp cơ thể tăng cường trao đổi chất, giảm tổng hợp chất béo, acid béo, giúp giảm cholesterol máu, ngăn ngừa tình trạng thừa cân, giảm béo phì. Phòng ngừa và giảm nguy cơ mắc bệnh về huyết áp tim mạch, giúp an thần, dễ ngủ.

Liều dùng:Uống 2 viên /lần. Ngày 2-3 lần . Uống trước bữa ăn 30 phút. Mỗi đợt dùng tối thiểu 4 tuần. Mỗi năm uống 4 đợt .

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược.

Đọc tiếp

KỲ DIỆU: TÍA TÔ – CHẤM DỨT CƠN ĐAU GÚT SAU 30 PHÚT

Những ai đang mang trong mình căn bệnh gút mới thấu hiểu được sự đau đớn của căn bệnh này gây ra hàng ngày. Các cơn đau từ nặng đến nhẹ thậm chí đau dữ dội, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và sinh hoạt của người bệnh.

Giờ đây, người mắc bệnh gút hãy an tâm sống vui khỏe vì chỉ với nguyên liệu rẻ tiền, dễ tìm kiếm là lá tía tô, các cơn đau do gút sẽ không còn hành hạ bạn mỗi ngày nữa.

Tía tô dùng để chữa bệnh gút là loại có màu tím, hay còn gọi là é tía, xích tô, vị ấm, tính cay, không độc. Vị thuốc này được tận dụng trong cả ẩm thực lẫn chữa bệnh, là gia vị phổ biến trong nhiều món ăn và là bài thuốc chữa bệnh cảm mạo, thuốc an thai rất tốt.

Bạn sẽ khá bất ngờ khi biết rằng trong tía tô có chứa hàm lượng dinh dưỡng khá cao. Các vitamin bao gồm A, C và các khoáng chất như canxi, sắt, phốt pho. Do đó, không có gì lạ khi tía tô lại được tận dụng trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống.

Lá tía tô, vị thuốc dân giã trị gút.

Theo Đông y, vị thuốc này thường có mặt trong các bài thuốc giải cảm, phong hàn, giảm sốt vì có tác dụng kích thích cơ thể ra mồ hôi.

Được biết, có đến 40% lượng dầu béo trong lá tía tô. Lượng dầu này có tác dụng chữa bệnh hoặc làm nguyên liệu trong chế biến thức ăn rất tốt.

Hướng dẫn dùng tía tô chữa bệnh gút

Nếu trong gia đình có người thân mắc bệnh gút, hãy dự trữ sẵn trong nhà loại rau tía tô hoặc trồng ngay trên sân thượng, vườn nhà mình vài gốc cây thuốc này khi cần dùng đến bạn nhé.

Khi có cảm giác các cơn đau do gút chuẩn bị đến, bạn hãy nhanh chóng lấy 1 nắm lá tía tô rửa sạch, bỏ vào nồi nấu thật kỹ, tương tự như khi bạn sắc thuốc. Nước thu được uống liền lập tức, bạn sẽ thấy ngay hiệu quả trong vòng 30 phút và các cơn đau không còn “hành hạ” ngay sau đó.

Ngoài ra, nếu bạn không muốn các cơn đau tiếp tục diễn tiến trong tương lai, hãy thường xuyên sử dụng tía tô trong các bữa ăn hằng ngày. Nên ăn sống để loại rau này phát huy hết công dụng phòng bệnh gút.

Nước sắc lá tía tô giúp chấm dứt cơn đau gút sau 30 phút.

Bạn hoàn toàn có thể yên tâm thực hiện theo hướng dẫn này vì bài thuốc không hề gây ra các tác dụng phụ ngoài ý muốn. Ngược lại, lá tía tô phát huy công dụng mau chóng khi bạn vừa áp dụng.

Hãy kiên trì thực hiện trong vài tháng, tía tô sẽ giúp bạn ngăn ngừa triệt để các triệu chứng của gút gây ra. Chúc bạn sống vui khỏe.

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược

Đọc tiếp

DẤU HIỆU CẢNH BÁO GAN ĐANG “CẦU CỨU” VÌ CHỨA ĐẦY ĐỘC TỐ, NHIỄM ĐỘC: SỐ 2 VÀ 4 NHIỀU NGƯỜI GẶP

Vì là cơ quan thải độc cho cơ thể nên gan cũng là nơi dễ tích tụ nhiều độc tố, nhiễm độc. Có thể nói gan là nơi bắt nguồn của nhiều loại bệnh

Gan là một trong những cơ quan làm việc chăm chỉ và vất vả nhất trong cơ thể. Chúng ta thường nghĩ công việc chính của bộ phận này là lọc và thải độc tố cho cơ thể.

Nhưng gan còn được ví như một bậc thầy với 500 chức năng khác nhau đã được liệt kê trong sách y khoa. Đơn cử như sản sinh ra hormone, dự trữ năng lượng và tạo ra các hợp chất giúp ruột tiêu hóa thức ăn…

Vì là cơ quan thải độc cho cơ thể nên gan cũng là nơi dễ tích tụ nhiều độc tố. Chính vì vậy, có thể nói gan là nơi bắt nguồn của nhiều loại bệnh. Dưới đây là 6 dấu hiệu cảnh báo gan bị nhiễm độc, chứa đầy chất bẩn và bạn cần phải “giải cứu” gan ngay lập tức.

1. Đau quanh vùng gan

Cảm giác thấy đau ở vùng phía trên bên phải bụng là một dấu hiệu cho thấy có thể gan đang gặp vấn đề. Thông thường, đó là một cơn đau âm ỉ, nhưng cũng có khi đau quặn quại.

Nên nhớ, công việc chính của gan là giải độc và giúp cơ thể lọc độc tố cũng như tiêu hóa thức ăn thành các chất dinh dưỡng.

Khi bị tổn thương do một căn bệnh nào đó gây ra, gan sẽ không hoạt động hiệu quả. Bộ phận này sẽ bị sưng lên, dẫn tới cơ thể sẽ buộc phải gửi các tín hiệu “cầu cứu”.

2. Sưng chân và mắt cá chân

Nếu bạn phớt lờ triệu chứng này, lá gan “khốn khổ” của bạn sẽ tự chữa trị và hậu quả là hình thành các mô sẹo. Trong khi đó, mô sẹo càng nhiều, lá gan càng hoạt động khó khăn hơn.

Tình trạng này kéo dài sẽ dẫn tới tăng áp suất mạch môn. Tiếp đó, bạn sẽ nhận thấy dịch, chất lỏng tích tụ ở chân, bắp chân hoặc đùi, gây phù nề dù không đau nhức. Nó có thể bị ở cả 2 chân.

3. Tăng cân

Hiện nay, ngày càng có nhiều người bắt đầu theo đuổi một chế độ dinh dưỡng lành mạnh, tập thể dục đều đặn nhưng họ vẫn “vật vã” với vấn đề cân nặng.

Nếu tăng cân không phải do ăn quá nhiều hoặc thay đổi hoocmon, bạn nên đi gặp bác sĩ để hỏi rõ hơn về vấn đề ở lá gan.

Thực tế là gan không thể “giải quyết” tất cả các chất độc hại được đưa vào cơ thể (rượu, chất làm ngọt nhân tạo, chế độ ăn kiêng giàu chất béo, một số loại thuốc nhất định…).

Cách duy nhất mà gan có thể làm trong trường hợp này là giữ lại các chất độc, không đào thải qua các tế bào mỡ. Sự xáo trộn này khiến bạn không thể giảm cân được.

Do đó, để có một khối lượng hợp lý, bạn cần giúp lá gan đã làm việc quá sức của mình dọn sạch độc tố trong cơ thể.

4. Dị ứng

Thường xuyên dị ứng có thể là kết quả của việc gan đang bị làm việc quá tải và kém hiệu quả. Khi có quá nhiều chất được đưa vào máu, não nhận diện chúng như những chất gây dị ứng và giải phóng các kháng thể và hóa chất. Điều này khiến bạn cảm thấy ngứa.

Một lá gan khỏe mạnh sẽ tự làm sạch các phân tử có hại trong máu và loại bỏ các chất tiềm ẩn gây dị ứng nếu có trong cơ thể.

5. Vàng da và mắt

Khi mắt hoặc da của một người bị chuyển thành màu vàng, các nhà khoa học gọi đó là bệnh vàng da. Bản thân vàng da không phải một loại bệnh lý mà là triệu chứng cho thấy có một trục trặc trong hệ thống vận hành các cơ quan trong cơ thể.

Thông thường, bệnh vàng da xuất hiện khi gan bị bệnh, làm tích tụ quá nhiều bilirubin – một sắc tố màu vàng được hình thành do sự phân hủy các tế bào hồng cầu chết ở gan.

Vậy chuyện gì sẽ xảy ra khi gan không loại bỏ được bilirubin cùng với các tế bào hồng cầu cũ? Dĩ nhiên là da sẽ chuyển dần sang màu vàng.

6. Mệt mỏi mãn tính

Triệu chứng mệt mỏi mãn tính giống với người mắc bệnh cúm kéo dài. Theo lý thuyết, chứng bệnh sẽ bị xếp vào mãn tính khi biểu hiện mệt mỏi kéo dài ít nhất 6 tháng.

Lý do đằng sau vấn đề này là gan bị nhiễm độc. Ngoài chức năng thải độc, gan còn cung cấp năng lượng cho cơ thể bằng cách chuyển hóa glucose thành glycogen và tích trữ nó để dùng dần.

Một lá gan khỏe mạnh sẽ chuyển hóa đường glucose lấy từ các bữa ăn trong ngày, và tiết ra chất cần thiết khi cơ thể có nhu cầu dinh dưỡng và năng lượng. Tuy nhiên, lá gan bị bệnh rất khó sản xuất glucose cũng như tích trữ nó. Đó là lí do cơ thể cũng thường xuyên mệt mỏi.

Bạn có thể giúp gan có điều kiện để phục hồi, tự chữa lành bằng cách có một lối sống khoa học, lành mạnh, bổ sung một số thực phẩm tự nhiên giúp tăng cường chức năng gan như trà xanh, nước nghệ, nước chanh, trái cây và rau hữu cơ. Hoặc dùng các  sản phẩm bổ gan, thải độc gan

Xem thêm sản phẩm bổ gan, thải độc gan. mát gan của dược phẩm Nara:

Thành phần:

Xạ đen: 300mg, cà gai leo: 100mg, silymanin: 50mg, giảo cổ lam : 300mg, diệp hạ châu: 200mg, biotine: 5mcg, Vitamin b1: 2mg, vitamin b6: 2mg, vitamin b12: 2mcg, phụ liệu: vừa đủ

Công dụng:

Tăng cường chức năng giải độc gan, giúp bảo vệ tế bào gan, hạn chế tổn thương tế bào trong những trường hợp men gan tăng cao, làm giảm các triệu chứng của gan như: vàng da, vàng mắt, đau tức hạ sườn phải, chướng bụng, sợ đồ ăn có dầu mỡ, giảm cân bất thường, ăn uống khó tiêu, nước tiểu có mầu sẫm, đi ngoài phân lỏng, nát.

Cách dùng:

Sản phẩm dùng cho người men gan cao, viêm gan, viêm gan B, xơ gan, gan nhiễm mỡ: Uống 2 viên/lần, 2 lần /ngày. Uống sau ăn.

Tăng cường chức năng giải độc gan: uống 1 viên / lần, ngày 2 lần. Uống sau ăn.

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược

Đọc tiếp

PHÁT HIỆN KỲ DIỆU CỦA ĐÔNG Y VỀ SEX

Trong y học hiện đại đa số nói nhiều về lĩnh vực sex, nhưng đặc biệt trong Đông y đã có những phát hiện độc đáo về lĩnh vực này. Theo y học phương Đông, để đạt đến sự thỏa mãn hoàn toàn trong hoạt động tình dục, nam giới cần hội đủ “tứ chí” (đủ khí ở 4 tạng), nữ giới phải có “cửu chí” (9 giai đoạn phát triển hưng phấn).

Nếu như tình dục của y học phương Tây dựa trên quan sát các hiện tượng xuất hiện trong quá trình ân ái thì phương Đông lại đặt trọng tâm vào các chức năng. Đông y cho rằng, hành vi tình dục ở con người có 3 chức năng chính: khoái lạc, sức khỏe và sinh sản.

Trong đó, chức năng sức khỏe được đặt lên hàng đầu. Để phát huy được đầy đủ các chức năng đó, sinh hoạt tình dục phải tiến hành theo “đạo”, nghĩa là phải theo đúng nguyên tắc và phép tắc.

Trong sinh hoạt tình dục, người xưa rất coi trọng vấn đề “đồng hứng” và “đồng lạc”, nghĩa là chỉ được giao hợp khi nam nữ cùng mong muốn và cùng vui vẻ. “Đồng hứng” – “đồng lạc” là điều kiện tiên quyết và đồng thời cũng là mục tiêu của quá trình giao tiếp âm dương.

Để giúp cho nam nữ có thể đạt tới mục tiêu đó, các chuyên gia tình dục cổ đại đã quan sát, nghiên cứu rất công phu và phát hiện nhiều quy luật. Trước hết phải kể đến 2 phát hiện hết sức độc đáo, đó là tứ chí ở nam và cửu chí ở nữ.

Tứ chí ở nam: Tứ chí là 4 dấu hiệu, 4 trạng thái biểu hiện các mức độ xung động ở nam giới. Dương vật không “lên” được, đó là can khí chưa tới, vì tạng này phụ trách về gân. Lên được nhưng không nở to, đó là tỳ khí chưa đến đủ, vì tạng tỳ phụ trách về cơ.

Nở to nhưng không cứng, đó là thận khí chưa đủ, vì tạng thận liên quan đến xương cốt. Cứng mà không nóng là thần khí (khí của tạng tâm) chưa đủ, vì tâm không kiên định thì không thể giao hợp lâu.

4 giai đoạn trên là các mức độ xung huyết trong huyết quản ở dương vật, theo y học hiện đại. Tứ chí là 4 điều kiện nam giới cần có đủ, để có thể giao hợp với nữ giới một cách mỹ mãn. Chưa có đủ tứ chí thì không thể giao hợp. Người xưa cho rằng, khi chưa đủ tứ chí thì chớ nên miễn cưỡng, chẳng những không thể khiến nữ giới vui vẻ mà còn làm tổn hại sức khỏe nam giới.

Can khí chưa đến đủ, miễn cưỡng giao hợp sẽ hại gân, tinh dịch chỉ tiết ra từng giọt mà không thể phóng xuất mạnh mẽ. Thận khí chưa đến, nếu giao hợp sẽ có hại xương cốt, tinh dịch không thể xuất, hoặc có xuất thì cũng rất ít.

Tâm khí chưa đến đủ, cố gắng giao hợp sẽ hại huyết, dễ dẫn đến chứng bệnh lãnh tinh (tinh lạnh). Trong Đông y, tứ chí còn thường được sử dụng để phân loại chứng bệnh “dương nuy” (rối loạn cương cứng).

Cửu chí ở nữ: Cửu chí là 9 trạng thái, 9 giai đoạn phản ánh mức độ hưng phấn tình dục ở nữ giới, đồng thời là những dấu hiệu giúp cho nam giới đánh giá đúng mức độ khoái cảm ở bạn tình.

Y gia thời xưa đã nghiên cứu rất kỹ quá trình hình thành cao trào ở nữ giới và phát hiện, trong mỗi giai đoạn, “khí” (năng lượng) đều dồn tới một bộ phận nhất định của cơ thể, tạo ra những phản ứng đặc thù, có thể quan sát và nhận biết.

Má ửng hồng, miệng cười tủm tỉm, đó là tâm khí (khí của tạng Tâm) đã đến. Mắt ướt lung linh, liếc nghiêng đưa tình, đó là can khí đến. Cúi đầu e lệ, đó là phế khí đến. Nghiêng đầu ngả mình, tự thân rung động, đó là tỳ khí đến.

Ngọc môn mở ra, quỳnh dịch thấm ướt, đó là thận khí đến. Xương khớp tê dại, bất động là cốt khí (khí của xương) đến. Hai chân quặp chặt lấy cơ thể nam giới, đó là cân khí đến (cân là gân cơ). Toàn thân rỉ mồ hôi, nóng ran, đó là huyết khí đến (khí của huyết dịch). Da thịt mềm nhũn, đờ đẫn…, đó nhục khí đến.

Cửu khí phải đến đủ mới có thể tiến hành giao hợp. Khi đó mới dễ dàng đạt tới khoái cực, có lợi với sức khỏe, tuổi thọ. Nếu giao hợp miễn cưỡng trong điều kiện nữ giới chưa có đủ cửu khí thì sẽ sinh bệnh và giảm tuổi thọ.

 Chẳng hạn, phế khí chưa tới đã vội vã giao hợp thì tạng phế sẽ bị tổn thương, lâu ngày sẽ dễ bị cảm mạo, mắc chứng ho, hen suyễn… Thận khí chưa đủ (âm hộ chưa mở) mà cố giao hợp thì tạng thận sẽ bị tổn thương, kinh nguyệt rối loạn…

“Đạo” giữa tứ chí và cửu chí: Trong “giao tiếp âm dương” rất cần tri thời, nghĩa là bắt đầu và kết thúc đúng lúc. Ví như nữ giới đang hưng phấn mà nam không “chớp lấy thời cơ”, hưng phấn qua rồi mới giao tiếp, thì nữ giới sẽ bị thương tâm (tạng Tâm bị tổn thương).

Dương vật chưa cứng rắn mà cố giao hợp thì dễ bị tổn thương ở mắt, dẫn đến mù. Ngược lại, nếu dương vật cứng đơ mãi, giao hợp quá lâu, hứng tình đã qua vẫn chưa ngừng, tạng tỳ ở nữ giới dễ bị tổn thương, dẫn tới đau bụng, khó tiêu, tiêu hóa rối loạn…

Xét trên thực tế, tứ chí và cửu khí nói đến ở đây chủ yếu liên quan tới những đôi vợ chồng tuổi trung niên và người cao tuổi. Với nam nữ đang độ thanh xuân, tiềm năng tình dục mới hình thành và đang rất mạnh nên dễ đạt đến các tiêu chí này.

Xem thêm sản phẩm hỗ trợ và tăng cường sinh lý nam giới NARAMEN 

Thành phần: Hải cẩu pín: 100 mg, bá bệnh: 100mg, thỏ ty tử: 100mg, Tỏa dương: 50mg, khổi tử: 50mg, đồ trọng: 50 mg.

Công dụng:Giúp bổ thận, mạnh gân cốt, tráng dương, tăng nội tiết tố testosterol nam giới, sinh tinh, tăng cường chất lượng tinh trùng. Tăng cường chúc năng sinh lý, tăng ham muốn, giúp giảm xuất tinh sớm,  rối loạn cương dương.

Liều dùng:1-2 viền/lần /ngày. Uống vào buổi sáng và tối trước khi đi ngủ. Mỗi đợt dùng từ 10 đên 15 ngày.

Sản phẩm được bộ Y tế chứng nhận và cấp phép. 

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược.

Đọc tiếp

HIỂU ĐỂ ” XÓA SỔ” CHOLESTEROL DƯ THỪA TRONG CƠ THỂ.

Cholesterol cao hiện đang là căn bệnh khá phổ biến trong xã hội hiện đại ngày nay. Nhưng hiện nay còn rất nhiều người chưa thực sự hiểu cholesterol là gì? Vậy nên bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cholesterol. Hãy cũng khám phá nhé!

Cholesterol là gì?

Cholesterol là chất mỡ được tạo ra từ trong gan và có trong thức ăn từ súc vật như thịt, trứng, sản phẩm bơ sữa, mỡ lợn và đây là chất mà cơ thể cần để hoạt động hàng ngày.

Cholesterol có mặt trong mỗi tế bào của cơ thể, nhìn thì giống như mỡ và là thành phần quan trọng của các màng tế bào và là một viên đá tạo dựng cho một số loại hoocmon.

Cơ thể chúng ta tự sản xuất tất cả cholesterol cần dùng nên bất cứ cholesterol nào mà chúng ta ăn vào đều là dư thừa. Khi cholesterol trong máu quá dư thừa thì chúng sẽ đóng thành mảng mỡ trong máu và gây cản trở cho dòng máu chảy trong các động mạch gây nên những cơn đột quỵ, nhồi máu cơ tim…

Bệnh cholesterol có nghĩa là lúc này người bệnh thừa cholesterol. Những điều đáng mừng ở đây là chứng bệnh này dễ phòng ngừa. Chúng ta chỉ cần ăn uống lành mạnh, tập thể dục đều đặn và thay đổi nếp sống là giảm được cholesterol.

Cholesterol kiêng ăn gì và nên ăn gì?

Cholesterol kiêng ăn gì?

Thực phẩm giàu chất béo bão hòa: Những thực phẩm giàu chất béo bão hòa như thịt xông khói, bơ, mỡ lợn…dễ làm tăng lượng cholesterol máu. Nên thay vào đó bạn nên sử dụng bơ thực vật mềm.

Thịt: Các loại thịt lợn, thịt gà và các sản phẩm của chúng như xúc xích, thịt xông khói…có chứa rất nhiều chất béo, cholesterol xấu nên tác động không tốt cho người bị cholesterol cao. Bạn chỉ nên tiêu thụ khoảng 140g thịt mỗi ngày.

Đồ ăn chiên: Những mòn chiên với dầu mỡ thường sẽ chứa rất nhiều chất béo. Nếu sử dụng nhiều, thì cholesterol sẽ ngày càng tăng cao. Vì vậy bạn hạn chế những món ăn chế biến theo dạng này, thay bằng các đồ ăn chế biến theo cách hầm, luộc hoặc hấp.

Thực phẩm có đường: Đường là nguyên nhân gây tăng cân béo phì nên trong chế độ ăn uống, người cholesterol cao nên giảm lượng đường và các sản phẩm chứa nhiều đường như bánh ngọt, kẹo, kem…

Cholesterol nên ăn gì?

Đậu phụ và các sản phẩm từ đậu nành: Ăn những loại thực phẩm này sẽ giúp hạ nồng độ cholesterol trong máu tự nhiên. Nên khuyến khích ăn những loại thực phẩm này.

Các loại hạt: Hạt lạc, óc chó, vừng, hạnh nhân….đều có chứa sterol thực vật là một hợp chất stero tồn tại phổ biến có thể khống chế cơ thể hấp thụ cholesterol, giảm thấp mức cholesterol trong máu.

Các loại cá: Cá chứa hàm lượng phong phú acid béo không bão hòa có thể giảm thấp mức triglycerides trong máu, đồng thời tăng tính đàn hồi cho huyết quản.

Một số loại khác như: táo, yến mạch, giá đỗ cũng rất tốt cho người bị cholesterol cao.

Cholessen – Giải pháp cho người bị mỡ máu cao, gan nhiễm mỡ

Xuất hiện trên thị trường với SỰ KHÁC BIỆT, sản phẩm Cholesnara là sự cộng hưởng tác dụng của 4 loại THẢO DƯỢC thiên nhiên quý giá là cao chiết lá sen bánh tẻ, cao chiết táo mèo, men gạo đỏ và tinh chất tỏi tía. 4 thảo dược này được nền y học thế giới nghiên cứu và chứng minh có tác dụng cực kì tốt đối với các căn bệnh liên quan đến mỡ thừa như: gan nhiễm mỡ, mỡ máu cao, cao huyết áp, men gan cao, béo phì.

Cao chiết lá sen: Được biết đến với hàm lượng dưỡng chất dồi dào, đặc biệt là thành phần Flavonoid, các nhà nghiên cứu đã chứng minh được tác dụng của lá sen trong ngăn chặn và làm giảm sự hình thành mỡ thừa bên trong cơ thể. Đồng thời thúc đẩy quá trình lưu thông máu diễn ra một cách trơn tru và ngăn chặn sự lão hóa của các tế bào trong cơ thể.

Cáo chiết Táo mèo: Là một loại trái cây đặc trưng của vùng đồi núi, táo mèo chứa khá nhiều thành phần được y học thế giới chứng minh có tác dụng trong việc loại bỏ mỡ thừa, tăng cường quá trình chuyển hóa các chất và thực sự phát huy hiệu quả tttrong điều trị mỡ máu, gan nhiễm mỡ, men gan, huyết áp cao,..

Men gạo đỏ: là chất được chiết xuất từ gạo lên men. Loại men này có tên là Monascus purpureus, là phương thuốc truyền thống của Trung Quốc và các nước châu Á khác trong nhiều thế kỷ qua.

Men gạo đỏ tự nhiên có chứa nhiều thành phần giúp kiểm soát nồng độ cholesterol như monacolin và đặc biệt là monacolin K. Nó cũng chứa sterol, isoflavones và các axit béo không bão hòa đơn (chất béo lành mạnh).

Tỏi tía có khả năng điều hòa cholesterol toàn phần. Bởi hoạt chất Allicin trong tỏi tía làm giảm tổng hợp cholesterol ở gan do ức chế Men HMG – CoA reductase. Đây là men khởi phát giúp hình thành cholesterol nội sinh ở gan, làm tăng lượng cholesterol trong máu. Ức chế sinh tổng hợp men này sẽ làm giảm tổng hợp cholesterol.

Ngoài ra, allicin trong tỏi tía làm tăng hoạt hóa LDL receptors – giúp thu gom các cholesterol xấu (LDL) trong máu và thải ra ngoài. Do vậy,tỏi tía có tác dụng giúp giảm cholesterol máu, ngăn ngừa xơ vữa mạch, cao huyết áp, gan nhiễm mỡ.

– Sản phẩm được sản xuất dựa trên CÔNG NGHỆ phun li tâm giúp chiết xuất được những dưỡng chất tốt nhất và loại bỏ hoàn toàn những tạp chất có trong lá sen, táo mèo và tỏi tía, để từ đó tạo ra một sản phẩm AN TOÀN, HIỆU QUẢ  TỐT NHẤT.

– Không chỉ có tác dụng loại bỏ mỡ thừa, sản phẩm còn giúp người bệnh ngăn chặn triệt để những nguyên nhân gây bệnh, giúp giải quyết TRIỆT ĐỂ vấn đề mà người bệnh đang gặp phải.

– Là sản phẩm được chiết xuất từ tự nhiên nên KHÔNG phát sinh TÁC DỤNG PHỤ ảnh hưởng đến sức khỏe và sẽ không phát sinh bất kì vấn đề nào nếu sử dụng lâu dài.

– Được nghiên cứu với một liều lượng sử dụng phù hợp, quá trình điều trị bệnh sẽ nhanh chóng có được một KẾT QUẢ tốt nhất

– Cholesnara phát huy tác dụng với HẦU HẾT các bệnh phát sinh do MỠ THỪA

– Được Bộ Y tế chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm và cho phép lưu hành toàn quốc

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược.

Đọc tiếp

NGẠC NHIÊN VỚI KẾT QUẢ HẠ MỠ MÁU TỪ CHOLES NARA

Bệnh mỡ máu còn gọi là “rối loạn chuyển hóa lipid”. Các lipid trong máu bao gồm cholesterol, triglycerid và acid béo tự do. Các lipid không tồn tại dưới dạng tự do mà gắn với protein, tạo thành lipoprotein.

Bệnh mỡ máu được nhận biết khi hàm lượng cholesterol toàn phần,  LDL và triglycerid tăng, còn hàm lượng HDL giảm. Khi ở trạng thái dư thừa, lắng đọng và bám vào thành mạch máu, gây xơ vữa động mạch.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới thì nguyên nhân tử vong liên quan đến tim và mạch, như xơ vữa động mạch chiếm tỷ lệ 45%, trong đó tai biến do mạch vành là 32%, tai biến do mạch máu não là 13%, chưa tính nhồi máu cơ tim… Các thuốc tổng hợp hóa học để lại  nhiều hội chứng không mong muốn như rối loạn tiêu hóa, đau cơ, teo cơ, tăng men gan, tăng bilirubin, tăng acid uric máu, hạ huyết áp, gây đục thủy tinh thể… người bị bệnh gan, thận, viêm loét dạ dày, tá tràng không được dùng các loại thuốc tổng hợp hóa học.

Cholesnara – của Dược phẩm Nara, bào chế từ tinh chất lá sen bánh tẻ, táo mèo, men gạo đỏtinh chất tỏi tía tốt cho bệnh mỡ máu, vì sản phẩm này có nguồn gốc tự nhiên, khi vào cơ thể rất nhanh thích nghi, không gây tác dụng không mong muốn.

Tỷ lệ các hoạt chất polyphenol bao gồm tannin, flavonoid, alkaloid, axit hữu cơ, vitamin C có trong lá sen giúp đẩy nhanh quá trình trao đổi chất lipid và điều hòa năng lượng nên làm giảm cholesterol và triglyceride toàn phần, cholesterol xấu đồng thời làm gia tăng cholesterol tốt. Các chất này đã tồn tại trong tế bào lá sen và táo mèo, khác  với thuốc tân dược, chưa từng tồn tại trong tế bào bao giờ, mà  được tạo ra thông qua phản ứng tổng hợp hóa học.

Lá sen khi dùng sống thì mát huyết, tan ứ, dùng chín thì bổ tâm, ích vị, an thần. Trong Y học hiện đại, lá sen có tác dụng bảo vệ các rối loạn nhịp tim gây bởi các dòng ion canxi. Đại học Jadavpur Ấn Độ, đã chứng minh tác dụng chống oxy hóa của tinh chất lá sen ở mức liều 100mg/kg tương đương với 50mg/kg Vitamin E. Các nghiên cứu còn cho thấy hợp chất flavonoid có tác dụng ức chế  peroxy hóa lipid trong màng tế bào gan…

Khi phối hợp với tinh chất của táo mèo, men gạo đỏ và tỏi tía bào chế thành  Cholesnara cho hương vị rất đặc biệt. Táo mèo còn gọi là  “Sơn tra Việt Nam”. Trong Y học cổ truyền, táo mèo có tác dụng bổ tỳ, kích thích tiêu hóa, chữa đầy bụng do ăn nhiều chất mỡ…tiêu thức ăn tích trệ, tan máu ứ, trị tích thịt, máu hôi ra không hết khi sinh, hóa máu cục, hóa khí hòn, hoạt huyết… Theo các lương y: Táo mèo có khả năng khắc hóa thức ăn, tiêu thức ăn tích, hành máu ứ, tiêu cái tích của dầu mỡ cáu bẩn, hóa máu ứ mà không làm tổn thương máu mới, mở được khí uất mà không làm tổn thương chính khí. Trung Quốc đã đánh giá trên lâm sàng trên 20 bệnh nhân mỡ máu cao: Trước điều trị  cholesterol trong máu là 253,2 mg%, sau điều trị trở về mức bình thường là 207mg%.

Trong “Dược thảo toàn thư” Andrew Chevallier viết như sau: Táo mèo biểu tượng cho hy vọng của nhiều chứng bệnh…, Ngày nay được dùng cho bệnh tim và rối loạn tuần hoàn máu. Các nghiên cứu của châu Âu xem quả táo mèo là “thức ăn cho tim”…Từ thế kỷ 16 đến 18 Gerard Culperper liệt kê nhiều tác dụng của táo mèo, nhưng về tác dụng trên máu và tim mạch thì bác sỹ người Ailen là người đầu tiên thành công trong chữa trị chứng bệnh về máu và tim mạch. Công trình nghiên cứu của CHLB Đức đã chứng minh: Bioflavonoid táo mèo có tác dụng làm giãn mạch vành, tăng lưu lượng máu đến tim, ngăn ngừa thoái hóa mạch máu, cải thiện nhịp tim và hạ huyết áp.

Ở Việt Nam, Đại học dược đã chứng minh: Nhóm chuột ăn thức ăn béo tăng trọng lượng 44,5%, cholesterol toàn phần tăng 67,3%, triglycerid tăng 46,2%, LDC tăng 28,6% và glucosa tăng 18,3%. Sau đó chuột điều trị bằng các phân đoạn của táo mèo và đã cho kết quả như sau: Tác dụng gây giảm trọng lượng: phân đoạn Ethylaxetat gây giảm 9,5%, phân đoạn Chlorofoc gây giảm 3,8%, phân đoạn chiết bằng cồn gây giảm 8,9%. Trên trang mạng PubMed còn thông báo phân đoạn flavonoid còn có tác dụng ức chế các tế bào ung thư.

Men gạo đỏ là chất được chiết xuất từ gạo lên men. Loại men này có tên là Monascus purpureus, là phương thuốc truyền thống của Trung Quốc và các nước châu Á khác trong nhiều thế kỷ qua.

Men gạo đỏ tự nhiên có chứa nhiều thành phần giúp kiểm soát nồng độ cholesterol như monacolin và đặc biệt là monacolin K. Nó cũng chứa sterol, isoflavones và các axit béo không bão hòa đơn (chất béo lành mạnh).

Tỏi tía có khả năng điều hòa cholesterol toàn phần. Bởi hoạt chất Allicin trong tỏi tía làm giảm tổng hợp cholesterol ở gan do ức chế Men HMG – CoA reductase. Đây là men khởi phát giúp hình thành cholesterol nội sinh ở gan, làm tăng lượng cholesterol trong máu. Ức chế sinh tổng hợp men này sẽ làm giảm tổng hợp cholesterol.

Ngoài ra, allicin trong tỏi tía làm tăng hoạt hóa LDL receptors – giúp thu gom các cholesterol xấu (LDL) trong máu và thải ra ngoài. Do vậy,tỏi tía có tác dụng giúp giảm cholesterol máu, ngăn ngừa xơ vữa mạch, cao huyết áp, gan nhiễm mỡ.

Viên Cholesnara được bào chế từ: Cao chiết lá sen, táo mèo, men gạo đỏ, tỏi tía kết hợp với công nghệ hiện đại phòng được đột quỵ, mỡ máu cao, xơ vữa động mạch, viêm gan và gan nhiễm mỡ, giảm cân, tiểu đường tip 2, tê mỏi tứ chi và sa sút trí tuệ.

Thành phần trong mỗi viên Cholesnara :

  • Cao chiết lá sen : 350mg
  • Cao chiết táo mèo: 100mg
  • Men gạo đỏ: 50mg
  • Tinh chất tỏi tía: 10mg
  • Phụ liệu: vừa đủ

Công dụng:Giúp cơ thể tăng cường trao đổi chất, giảm tổng hợp chất béo, acid béo, giúp giảm cholesterol máu, ngăn ngừa tình trạng thừa cân, giảm béo phì. Phòng ngừa và giảm nguy cơ mắc bệnh về huyết áp tim mạch, giúp an thần, dễ ngủ.

Liều dùng:Uống 2 viên/lần. Ngày 2-3 lần. Uống trước bữa ăn 30 phút. Mỗi đợt dùng tối thiểu 4 tuần. Mỗi năm uống 4 đợt .

Liệu trình sử dụng:

  • Người bị mỡ máu cao: Liên tục trong 3 tháng
  • Người bị gan nhiễm mỡ độ I: 4-6 hộp
  • Người bị gan nhiễm mỡ độ II: 6-8 hộp
  • Người bị gan nhiễm mỡ độ III: 8-12 hộp
  • Người bị men gan cao: Liên tục trong 2-3 tháng
  • Người thừa cân béo phì: Liên tục trong 2-3 tháng

Lưu ý: Sử dụng đúng liệu trình để đạt hiệu quả cao nhất. Có thể sử dụng lâu dài để phòng ngừa. Sản phẩm an toàn khi sử dụng dài ngày.

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược.

Đọc tiếp

CHUYÊN GIA KHUYẾN CÁO: BỔ SUNG CANXI CẦN ĐÚNG THỜI ĐIỂM, MẮC SAI LẦM NÀY CHẲNG KHÁC NÀO CHƯA UỐNG

 

Thời gian uống canxi bổ sung tốt nhất là khi nào?

Nghiên cứu cho thấy rằng, thời gian tốt nhất trong ngày để uống canxi là từ khoảng 2 đến 3 tiếng trước khi đi ngủ, hoặc 1 đến 1,5 tiếng sau bữa tối.

Vào ban đêm, mức canxi trong máu hạ xuống khá thấp, ban ngày lại tăng lên cao hơn. Nếu chúng ta ăn uống hợp lý và điều độ, đủ chất, thì về cơ bản có thể đáp ứng được nhu cầu canxi mà cơ thể cần.

Tuy nhiên vào ban đêm, canxi trong nước tiểu vẫn sẽ được thải ra, trong khi đó chúng ta không tiếp tục bổ sung canxi vào theo đường thực phẩm, vì vậy, lượng canxi trong máu sẽ giải phóng ra để bù vào sự mất canxi trong nước tiểu.

Nói một cách dễ hiểu, thời điểm này sẽ rất dễ hấp thụ canxi, nếu bổ sung canxi đúng lúc thì hiệu quả sẽ rất cao, cơ thể hấp thụ nhanh và tối đa.

Ngoài ra, vào ban đêm, cơ thể hoạt động sẽ làm hạ canxi trong máu sẽ kích thích sự bài tiết hormon tuyến giáp, làm tăng tốc độ phân giải canxi trong xương xương nhanh hơn.

Trong trường hợp này, nếu bổ sung lượng canxi thích hợp trước khi đi ngủ, nó sẽ có thể cung cấp đầy đủ “đạn dược” vào ban đêm để giảm sự mất xương trong cơ thể.

Canxi cũng có tác dụng an thần giúp bạn dễ dàng đi vào giấc ngủ. Nhưng bạn cần phải lưu ý uống canxi đúng thời gian đã nêu. Bởi nếu bạn quên uống đúng giờ, vừa uống xong đã đi ngủ ngay thì sẽ dễ dàng làm tăng nguy cơ bệnh sỏi hệ tiết niệu.

3 điều cần lưu ý khi uống canxi bổ sung

1. Uống canxi cần uống thêm Vitamin D với liều lượng thích hợp

Khi bổ sung canxi cần kết hợp bổ sung vitamin D, hai chất này là “bạn đồng hành” không thể thiếu trong mỗi lần uống để nâng cao hiệu quả hấp thụ.

Người cao tuổi chỉ có khả năng hấp thụ vitamin D bằng 1/3 so với người trẻ tuổi. Vì vậy khi bổ sung canxi vitamin D cùng một lúc cần phải tham khảo ý kiến bác sĩ.

2. Không ăn thực phẩm chứa axit oxalic khi uống canxi

Những thực phẩm không nên kết hợp khi uống canxi gồm rau bina, rau dền, rau muống, măng, hành tây, đậu nành… bởi vì chúng chứa rất nhiều axit oxalic, nếu kết hợp với canxi sex ảnh hưởng đến sự hấp thụ.

Nếu bạn phải ăn những loại rau này, tốt nhất là nấu thành canh nóng để ăn, hoặc ăn trước từ 3-4 giờ sau đó mới uống các sản phẩm canxi.

3. Không uống canxi cùng với bữa ăn

Nếu bạn bổ sung canxi luôn trong bữa ăn hoặc trộn vào thức ăn, trong dạ dày cùng lúc sẽ có quá nhiều thứ khiến chúng không thể hấp thụ hết lượng canxi bạn vừa ăn vào. Thậm chí, cơ thể chỉ hấp thụ được khoảng 20% lượng thuốc bạn vừa uống.

Thời điểm uống canxi ít nhất phải sau bữa ăn khoảng 1 tiếng trở lên.

Xem thêm sản phẩm bổ sung Calci tại đây: http://naraphar.vn/san-pham/calci-nara/ 

*Theo Health/People

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược

Đọc tiếp

TIN SỐC: CÓ THỂ ” BIẾN ĐỔI GEN” VÌ UỐNG RƯỢU

Uống rượu gây ung thư không chỉ bởi các tác hại sức khỏe chúng ta đã biết, mà còn vì một chất sinh ra từ quá trình chuyển hóa rượu có thể phá hỏng DNA.

Uống rượu nhiều có thể làm DNA của bạn hỏng, dẫn đến ung thư 
 Mỗi năm có thêm 12.000 người Anh bị chẩn đoán mắc ung thư liên quan đến rượu. Theo các nhà khoa học, với những cơ chế gây hại được biết đến trước đây, uống rượu làm phá hỏng gan, xơ gan và đặc biệt gây ra nhiều loại ung thư.

Một nghiên cứu do Phòng thí nghiệm Sinh học phân tử, Đại học Cambridge công bố mới đây đã tìm ra nguyên nhân: một chất hóa học mang tên acetaldehyde được tạo ra khi cơ thể xử lý rượu có thể bẻ gãy DNA của tế bào gốc, thay đổi mã di truyền.

Mã di truyền quyết định số phận của tế bào. Do đó, khi đã bị rượu “biến đổi gen”, các tế bào bắt đầu phát triển bất thường và dẫn đến bệnh ung thư. Thương tổn DNA do rượu gây ra là vĩnh viễn, không có cách nào hồi phục.

Đây có lẽ là nguyên nhân người mắc ung thư liên quan đến rượu dễ tái phát bệnh. Chưa kể, rượu cũng làm hư hỏng tính năng tự sửa chữa DNA bị hư hại của cơ thể, khiến các DNA bị sửa chữa sai, điều này cũng gây ung thư.

Trong nghiên cứu, các nhà khoa học cũng thí nghiệm trên chuột với cồn pha loãng. Đó thực sự là một cuộc tấn công đối với DNA của những chú chuột thí nghiệm này.

Acetaldehyde bẻ gãy DNA, phá vỡ chúng và sắp xếp lại các nhiễm sắc thể, khiến các kế hoạch phát triển cơ thể lành mạnh của DNA bị đảo lộn.

Theo giáo sư Ketan Patel, tác giả chính của nghiên cứu, nhiều căn bệnh ung thư phát triển do sự hư hại của DNA trong tế bào gốc. Mặc dù có những sự hư hại xảy ra tình cờ nhưng những phát hiện trong nghiên cứu này cho thấy rượu có thể làm tăng nguy cơ xảy ra hư hại này.

Giáo sư Patel nhấn mạnh: “Rượu chất lượng kém sẽ làm tăng cao nguy cơ hư hỏng DNA và ung thư”. Ngoài ra, rượu cũng làm giảm lượng folate trong máu – loại vitamin B mà các tế bào rất cần để có thể tái tạo DNA một cách chính xác.

Một số dân tộc, ví dụ như người Trung Quốc, thường mang đột biến ở hai gen aldh2 và Fancd2, khiến họ dễ bị ảnh hưởng bởi rượu hơn, do đó nguy cơ hư hỏng DNA cũng tăng cao. Đó là lý do Trung Quốc đang phải đối mặt với sự gia tăng nhanh chóng tỉ lệ bệnh ung thư thực quản.

Rượu liên quan đến 7 loại ung thư: gan, ruột, vú, cổ họng, miệng, thực quản, thanh quản. Để ngăn ngừa điều này, không có cách nào khác ngoài bớt uống rượu và hạn chế sự độc hại của rượu đến Gan có thể dùng đến các sản phẩm hỗ trợ và thải độc gan.


Sản phẩm Nara Liver hỗ trợ và tăng cường chức năng giải độc gan, giúp bảo vệ tế bào gan, hạn chế tổn thương tế bào trong những trường hợp men gan tăng cao, uống nhiều rượu, làm giảm các triệu chứng của gan như: vàng da, vàng mắt, đau tức hạ sườn phải, chướng bụng, sợ đồ ăn có dầu mỡ, giảm cân bất thường, ăn uống khó tiêu, nước tiểu có mầu sẫm, đi ngoài phân lỏng, nát.

Sản phẩm chiết xuất 100% thảo dược từ thiên nhiên được sản xuất bởi Công ty Cổ phần dược phẩm Naraphar Quốc tế.

Naraphar – tinh hoa từ thảo dược.

 (Theo Telegraph, The Guardian)
Đọc tiếp

NAM GIỚI SEX BAO NHIÊU LẦN/THÁNG LÀ TỐT NHẤT: MẤT 18 NĂM NHÀ KHOA HỌC MỚI CÓ CÂU TRẢ LỜI

Nam giới trong độ tuổi từ 20 đến 29 quan hệ tình dục và có xuất tinh 21 lần/tháng thì sau này đối mặt với nguy cơ ít bị ung thư tuyến tiền liệt hơn.

Trường Đại học Y tế Công cộng Harvard TH Chan (Mỹ) đã thực hiện một cuộc nghiên cứu kéo dài 18 năm để xác định mối liên quan giữa tần suất xuất tinh và ung thư tuyến tiền liệt.

Cụ thể, các nhà khoa học đã làm một cuộc khảo sát về sức khỏe của 32.000 người đàn ông từ năm 1992, khi họ ở trong độ tuổi 20, cho đến năm 2010. Trong thời gian này, có 4.000 người được chẩn đoán mắc ung thư tuyến tiền liệt.

Kết quả cho thấy, đàn ông ở độ tuổi 20-29 xuất tinh 21 lần/tháng sẽ giảm nguy cơ mắc ung thư tuyến tiền liệt lên đến 19% so với những người có số lần quan hệ tình dục từ 4-7 lần/tháng.

Còn nhóm nam giới từ 40 đến 49 tuổi, xuất tinh ít nhất 21 lần/tháng giảm tới 22% nguy cơ phát triển ung thư tuyến tiền liệt.

Trong một chừng mực nào đó, tần suất xuất tinh là một thước đo sức khỏe tổng quan của một người đàn ông.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những người xuất tinh ít, 0-3 lần/tháng thường có nhiều vấn đề về sức khỏe, và thường chết sớm do các nguyên nhân khác, chứ không đơn thuần vì ung thư tuyến tiền liệt“, tiến sĩ Jennifer Rider, người dẫn đầu nhóm nghiên cứu cho biết.

Bà Rider còn giải thích thêm rằng xuất tinh ở nam giới giống như việc ”rửa sạch” cơ quan sinh dục trong, đồng thời mang lại sự cân bằng nội tiết, từ đó ngăn chặn sự tích tụ của các tế bào già và giảm nguy cơ mắc bệnh nói chung, ung thư nói riêng.

Vì vậy, ngay cả khi xuất tinh một vài lần /tháng cũng có thể mang lại một số lợi ích cho tuyến tiền liệt.

Theo Tạp chí Tiết niệu Châu Âu, ung thư tuyến tiền liệt chiếm khoảng 15% số ca chẩn đoán mắc ung thư trên khắp thế giới. Nguyên nhân ung thư tuyến tiền liệt hiện vẫn chưa rõ ràng, gia tăng ở những người đàn ông lớn tuổi.

Kết quả này là một dấu hiệu tích cực, cho chúng ta thấy rằng vai trò của việc xuất tinh đều đặn có ảnh hưởng tích cực thế nào tới bệnh ung thư tuyến tiền liệt“, bà Rider khẳng định.

Trước đây, một nghiên cứu của Trường Đại học Montréal (Canada) cho thấy những người đàn ông không bao giờ có quan hệ tình dục đối mặt với nguy cơ mắc ung tiền liệt tuyến tăng gấp 2 lần so với những người có quan hệ tình dục thường xuyên.

Tuy nhiên, chuyên gia nghiên cứu ung thư Siobhan Sutcliffe tại Trường Y Đại học Washington ở St. Louis (Mỹ) cho rằng chế độ ăn uống và tập luyện thể thao thường xuyên vẫn là cách tốt nhất để phòng bệnh ung thư, chứ không chỉ riêng quan hệ tình dục.

* Theo Men’s Health

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược

Đọc tiếp

SUY GIẢM THỊ LỰC – ĐỪNG ĐỂ MẤT ĐI ĐÔI MẮT VÌ SỰ CHỦ QUAN

  Người ta thường ” đao to búa lớn” nói về việc bảo vệ sức khỏe, nhưng rất ít người coi trọng sức khỏe của đôi mắt. Trong khi đó, phần lớn thông tin mà con người nắm bắt được đều thông qua đôi mắt. Tuy nhiên, những thói quen sinh hoạt hằng ngày lại tiềm ẩn nhiều nguy hiểm đến chất lượng thị lực, mà nếu không cẩn thận có thể sẽ mất đi ánh sáng vĩnh viễn. 

   Nhức mắt, mỏi mắt, nhìn mờ, thấy chấm đen, chảy nước mắt hoặc lóa mắt là các triệu chứng báo hiệu mắt bạn đang làm việc quá sức. Đáng lo ngại là các triệu chứng về bệnh mắt thường không biểu hiện đau nhức rõ rệt nên người bệnh thường lơ là, chủ quan.

Trên thực tế, các bệnh mắt nguy hiểm, tỉ lệ mù lòa cao như đục thủy tinh thể, thoái hóa hoàng điểm ở giai đoạn sớm đều không có triệu chứng đau nhức, hoặc làm ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống người bệnh. Vì thế, chủ động phòng ngừa ngay từ khi mắt mới xuất hiện các triệu chứng như nhức mỏi, nhìn mờ đóng vai trò tích cực trong việc chăm sóc mắt, bảo vệ thị lực.

Kết quả điều tra quốc gia do Bộ Y tế tiến hành cho thấy, chỉ riêng tại 14 tỉnh thành có 330.000 người mù, gần 11,5% người trên 50 tuổi thị lực kém (khoảng 2 triệu người). Tính đến năm 2017, tỷ lệ mù lòa chung của cả nước ước tính gần 4% dân số. Đáng chú ý, số người trên 50 tuổi có thị lực kém cả 2 mắt và mù lòa do đục thủy tinh thể, thoái hóa hoàng điểm đang ngày càng tăng cao.

I. Những tác nhân/yếu tố gây lão hóa mắt

Có nhiều nguyên nhân làm tổn thương, khiến mắt yếu đi, xuất hiện các triệu chứng khô, nhức, mỏi, thậm chí thấy chấm đen, lóa sáng, nhìn màu không chuẩn…

Theo các thống kê gần đây, ngoài các nguyên nhân liên quan đến chấn thương, nhiễm khuẩn, tuổi tác, thì ô nhiễm môi trường và ánh sáng nguy hiểm từ các loại màn hình như: máy tính, smartphone, … hiện cũng được coi những “thủ phạm” chính gây bệnh cho mắt, khiến bệnh mắt gia tăng và ngày càng trẻ hóa.

II. Bạn đứng trước nguy cơ bệnh mắt nào

2.1 Triệu chứng chung báo hiệu nguy cơ bệnh mắt

Nhìn mờ, khô, nhức, mỏi mắt là triệu chứng chung “báo hiệu” mắt đang phải làm việc quá nhiều. Khi mới xuất hiện các triệu chứng này, bệnh nhân cần chủ động để mắt nghỉ ngơi, tránh làm việc với máy tính quá nhiều và nên đến khám bác sĩ nhãn khoa để được chẩn đoán và can thiệp, điều trị sớm.

2.2 Những triệu chứng cảnh báo nguy cơ bệnh mắt nguy hiểm

Không ít các trường hợp bệnh mắt tiến triển nặng, dẫn đến mù lòa là do chưa nhận thức đúng và không có biện pháp kịp thời trong phòng tránh, điều trị từ sớm. Bên cạnh các triệu chứng chung như nhìn mờ, nhức, khô, mỏi mắt, có một số triệu chứng riêng biệt khác, được xem là đặc thù cho từng bệnh mắt. Khi xuất hiện các triệu chứng này, báo hiệu mắt đã và đang đứng trước nguy cơ, suy giảm thị lực, thậm chí là mù lòa.

2.3 Thấy chấm đen, lóa sáng – Nguy cơ đục thủy tinh thể

Đục thủy tinh thể (hay còn gọi là cườm khô, cườm đá) là tình trạng thủy tinh thể bị mờ đục do tác động của các chất có hại bên trong cơ thể và môi trường bên ngoài làm liên kết –SH và HS- trong cấu trúc của thủy tinh thể bị biến tính (mất điện tử Hidro và bị biến thành liên kết disulphua –SS) gây biến đổi tỉ lệ và cấu trúc các phân tử protein. Khi liên kết -SS bắt đầu kết dính với nhau, khiến thủy tinh thể không còn mềm dẻo và giảm khả năng điều tiết linh hoạt, không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động tiếp nhận ánh sáng từ ngoài vào, mà còn tạo thành những đám mờ, làm mất sự trong suốt của thủy tinh thể, cản trở ánh sáng hội tụ lên võng mạc, từ đó làm giảm thị lực.

Đục thủy tinh ở giai đoạn sớm ít có triệu chứng, người bệnh có thể nhìn mờ, thấy mắt hay bị khô, mỏi, bệnh chỉ được phát hiện khi khám chuyên khoa mắt. Khi đã bước vào giai đoạn muộn, bên cạnh dấu hiệu nhìn xa kém do thị lực giảm, người bệnh bắt đầu nhìn màu không chuẩn, đặc biệt là thấy những chấm đen trước mắt và lóa mắt khi gặp ánh sáng cường độ mạnh.

Tự trang bị cho mình những hiểu biết về mắt, đặc biệt là các nguyên nhân gây suy giảm thị lực là điều cần thiết để bảo vệ, chăm sóc mắt thường xuyên và đúng cách.

Việc chăm sóc đôi mắt không phải chỉ cần khi bạn đến tuổi lão hóa ” mắt mờ chân chậm” mới quan tâm. Mà cần được chú ý ngay từ những ngày đầu đời. Một số thói quen cũng như một số công việc hằng ngày tưởng chừng như không liên quan đến đôi mắt, nhưng nếu chúng ta không để ý thì vô tình đã góp phần làm đôi mắt của mình bị giảm thị lực, khó có thể hồi phục lại như ban đầu. Những thay đổi này thường diễn biến rất chậm, khó nhận biết trong một thời gian dài và nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nếu như con người thiếu hiểu biết về chăm sóc mắt. Vì vậy, việc tuân thủ một số nguyên tắc trong làm việc và sinh hoạt sẽ giúp giữ gìn, bảo vệ đôi mắt.Ngoài ra, một số yếu tố khác cũng góp phần làm tăng nguy cơ giảm thị lực của mắt như: yếu tố di truyền, các bệnh lý toàn thân thường gặp, đặc biệt là bệnh tiểu đường, cao huyết áp… Những người bệnh thuộc nhóm này phải làm quen với sự tái khám và theo dõi định kỳ bởi bác sĩ chuyên khoa mắt.

Viên bổ mắt Nara hỗ trợ điều trị, cải thiện thị lực một số bệnh về mắt như cận thị tiến triển và cận thị thoái hóa; bệnh lý võng mạc và các rối loạn mạch máu mắt liên quan đến quáng gà, suy giảm điều tiết mắt, viêm giác mạc, đau nhức mắt, mỏi mắt do tiếp xúc nhiều với máy tính, ti vi, trong thời kỳ thi cử, thiếu ngủ, làm việc lâu dài, tập trung lái xe; rối loạn thị giác lúc mờ tối và ban đêm; đục thủy tinh thể, thoái hóa hoàng điểm ở người lớn tuổi.

( Viên bổ mắt Nara – Sản phẩm được sử dụng để bảo vệ cho đôi mắt khỏe đẹp)

VitaminA: 5000 IU, Vitamin E: 2 IU, Lutein 10%: 5mg và các thành phần hỗ trợ khác có tác dụng cung cấp dưỡng chất cho mắt, hỗ trợ mắt khỏe hơn, sáng hơn, bảo vệ mắt, tăng cường thị lực, làm chậm quá trình lão hóa mắt, chống mỏi mắt, khô mắt. Hỗ trợ giảm nguy cơ thoái hóa điểm vàng, hạn chế cận thị tiến triển, suy thoái võng mạc. Chống chỉ định trong những trường hợp quá mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của thuốc. Thận trọng: Không dùng quá liều khuyến cáo. Nên hỏi ý kiến bác sĩ khi có hiện tượng rối loạn thị giác bất ngờ hay khi tình trạng rối loạn thị giác sẵn có trở nên xấu hơn, nên tránh dùng thuốc này ở phụ nữ có thai và đang cho con bú. 

Sản xuất: Công ty cổ phần dược phẩm Naraphar quốc tế. Sản phẩm có bán rộng rãi tại các nhà thuốc trên toàn quốc. 

NARAPHAR – Tinh hoa từ thảo dược.

Đọc tiếp

12 LOẠI RAU QUẢ ĐƯỢC VÍ LÀ ” THẦN DƯỢC” GIÚP MẮT SÁNG KHỎE

Đu đủ, bơ, cà rốt, khoai lang, cà chua, bắp ngô, các loại rau lá màu xanh… giúp tăng cường thị lực, mắt sáng khỏe hơn.

12 loại rau quả giúp mắt sáng khỏe

Để có đôi mắt sáng khỏe, trước hết mọi người cần tập thói quen sinh hoạt, học tập, làm việc khoa học và điều độ. Trong bữa ăn hàng ngày nên bổ sung thêm các thực phẩm giàu omega 3, kẽm, vitamin C sẽ giúp bảo vệ và cải thiện tầm nhìn. Dược phẩm Naraphar gợi ý một số loại rau, củ, quả tốt cho mắt như sau:

Cà rốt chứa nhiều beta-caroten khi hấp thụ vào cơ thể sẽ chuyển hóa thành vitamin A tạo sắc tố võng mạc giúp mắt nhìn tốt hơn. Ngoài ra cà rốt còn giúp chữa chứng quáng gà và hạn chế bệnh đục thủy tinh thể.

12 loại rau quả giúp mắt sáng khỏe

Bắp (ngô) giàu beta-carotenoid và folate. Đây là hai chất giúp làm chậm quá trình suy thoái điểm vàng liên quan đến tuổi tác. Ăn quả này thường xuyên giúp giảm nguy cơ đục thủy tinh thể và giúp ngăn ngừa sự tiêu hủy các sắc tố màu vàng trong mắt.

12 loại rau quả giúp mắt sáng khỏe

Quả bơ chứa hàm lượng lutein nhiều hơn tất cả loại trái cây hoặc rau củ khác. Đây là thành phần dinh dưỡng có tác dụng cải thiện thị lực, giảm nguy cơ thoái hóa điểm vàng và đục thủy tinh thể.

12 loại rau quả giúp mắt sáng khỏe

Cà chua chứa chất lycopene, chống oxy hóa và bảo vệ võng mạc mắt. Vitamin C trong quả này có tác dụng tăng thị lực và ngăn ngừa bệnh quáng gà. Cà chua cũng giàu vitamin A giúp ngăn ngừa thoái hóa điểm vàng – một bệnh nghiêm trọng dẫn đến mù mắt.

12 loại rau quả giúp mắt sáng khỏe

Hầu hết loại cá nhiều dầu như cá hồi, cá ngừ giàu omega-3 có tác dụng bảo vệ võng mạc nhờ khả năng chống viêm. Omega 3 cũng giúp bảo vệ các mạch máu nhỏ nuôi dưỡng mắt, trị bệnh khô mắt rất hiệu quả và giảm nguy cơ thoái hóa điểm vàng.

12 loại rau quả giúp mắt sáng khỏe

Chocolate có tác dụng tăng khả năng lưu thông máu, giúp mắt đỡ mệt mỏi, thị lực tốt hơn. Tuy nhiên, người đã bị đục thủy tinh thể không nên ăn chocolate vì chứa vanadium vốn không tốt cho mắt đã mắc bệnh này.

12 loại rau quả giúp mắt sáng khỏe

Đu đủ rất giàu vitamin C, B, kali, magie, chất xơ… tốt cho hệ tiêu hóa vừa tăng cường sức đề kháng và bảo vệ đôi mắt. Đặc biệt loại quả có hàm lượng vitamin C dồi dào được chứng minh giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh nguy hiểm về mắt như đục thủy tinh thể.

Lưu ý: Trẻ trong độ tuổi ăn dặm, mẹ nên tập cho bé ăn với đu đủ chín bằng cách xay nhuyễn. Trẻ lớn hơn có thể cắt đu đủ thành hạt lựu trộn với phô mai.

12 loại rau quả giúp mắt sáng khỏe

Hạnh nhân giúp chống khô mắt. Mỗi ngày ăn một nắm hạt này hoặc trộn với ngũ cốc để ăn sáng sẽ giúp đôi mắt khỏe mạnh.

12 loại rau quả giúp mắt sáng khỏe

Các thành phần dinh dưỡng trong hạt điều có tác dụng bảo vệ đôi mắt, tăng cường thị lực, ngăn ngừa bệnh liên quan đến suy giảm thị lực.

12 loại rau quả giúp mắt sáng khỏe

Khoai lang giàu beta-carotene, vitamin A, C, chất xơ… có lợi cho đôi mắt. Đặc biệt, loại củ này chứa nhiều vitamin D giúp tăng cường hệ miễn dịch, cung cấp năng lượng, cho đôi mắt sáng khỏe hơn.

12 loại rau quả giúp mắt sáng khỏe

Lòng đỏ trứng gà chứa lượng lớn lutein và zeaxanthin giảm nguy cơ thoái hóa điểm vàng. Nguồn vitamin D có trong trứng gà còn giúp giảm cảm giác mệt mỏi cho mắt.

12 loại rau quả giúp mắt sáng khỏe

Các loại rau lá xanh giàu vitamin, chất chống oxy hóa lutein và Zeaxanthin. Trong khẩu phần ăn hàng ngày nên có một trong các loại rau như cải xoăn, rau bina, củ cải… để tăng cường thị lực, bảo vệ đôi mắt khỏi tác hại của ánh sáng mặt trời và làm tăng mật độ sắc tố của tế bào trong điểm vàng. Lưu ý: Để tận dụng hết những lợi ích từ rau xanh, không nên luộc hoặc nấu quá chín.

NARAPHAR – Tinh hoa từ thảo dược

Đọc tiếp

UNG THƯ GAN – NGUY HIỂM NHƯNG PHÒNG CỰC DỄ

Nguyên nhân dẫn đến ung thư gan chủ yếu là viêm gan mạn tính do virus viêm gan B (HBV) và viêm gan C (HCV). Đây là bệnh cảnh nền của 70 – 80% tổng số ca ung thư gan. Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như nghiện rượu, độc tố aflatoxin của nấm Aspergillus flavus trong ngũ cốc.
Để phòng bệnh ung thư gan chúng ta cần biết được các nguyên nhân chính gây bệnh:1. Viêm gan B

Bệnh viêm gan B mặc dù diễn biến thầm lặng, có thể xen kẽ các đợt bùng phát, nhưng để lại hậu quả nặng nề tiềm ẩn nhiều biến chứng như xơ gan, ung thư gan và gây tử vong.

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tại Việt Nam tỉ lệ nhiễm vi-rút viêm gan B chiếm 10% – 20% tổng dân số. Tức là cứ 10 người thì có 1 – 2 người bị viêm gan B, đây là tỷ lệ rất cao.

Tiêm Vắc-xin là biện pháp phòng bệnh viêm gan B hiệu quả, lên đến 95%. Trẻ sơ sinh phải được tiêm chủng viêm gan B càng sớm càng tốt, thời gian tiêm tốt nhất là trong vòng 24 giờ sau khi sinh. Đối với người lớn cần xét nghiệm để quyết định có cần tiêm hay không.

Virus viêm gan B lây truyền qua đường máu. Vì vậy một số biện pháp phòng lây truyền viêm gan B bao gồm sử dụng kim tiêm vô trùng, quan hệ tình dục an toàn, thận trọng với máu v.v. Mẹ mang thai cần được xét nghiệm viêm gan B để điều trị dự phòng cho con nếu cần thiết.

Hiện nay viêm gan B chưa thể điều trị khỏi hẳn bằng Tây Y, nếu tuân thủ đúng điều trị thì nguy cơ mắc ung thư gan có thể giảm 75%, đồng thời đảm bảo được chức năng gan và phòng được các biến chứng khác.

2. Viêm gan C

Khoảng 30% người viêm gan C mạn tính có nguy cơ tiến triển thành xơ gan hoặc ung thư gan. Các chuyên gia coi đây là một sát thủ thầm lặng. Hiện nay tại Việt Nam có khoảng 4 – 5 triệu người nhiễm viêm gan siêu vi C.

Virus viêm gan C lây truyền qua đường máu, do vậy cách phòng tránh tương tự như virus viêm gan B.
Tuy chưa có vắc-xin phòng bệnh viêm gan C, nhưng bệnh có thể khỏi hẳn nếu điều trị sớm và tuân thủ liệu trình. Nếu phát hiện muộn sẽ gây khó khăn cho điều trị. Chính vì vậy nếu có điều kiện nên chủ động tầm soát viêm gan C để điều trị dứt điểm và hạn chế lây lan.

3. Rượu bia

Rượu bia có thể gây đến 7 loại ung thư, trong đó có ung thư gan. Khi rượu vào cơ thể sẽ được gan chuyển hóa, tại đây rượu gây độc cho các tế bào gan.

Ở người uống rượu lâu ngày, gan bị sẽ viêm, các tế bào gan thay bằng tế bào mỡ, rồi dần dần gan bị xơ hóa, xuất hiện ung thư hóa.

Để tránh những hệ quả sức khỏe do rượu, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh Hoa Kỳ (CDC) khuyến cáo nữ giới không nên uống quá 1 đơn vị cồn một ngày, nam giới chỉ nên uống dưới 2 đơn vị cồn một ngày

Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ cũng đưa ra khuyến cáo mọi người nên giảm bớt lượng tiêu thụ rượu, dần dần hướng tới mục tiêu bỏ rượu hoàn toàn. Đặc biệt ở những người đã có bệnh gan thì nên bỏ hoàn toàn.

4. Gan nhiễm mỡ

Gan nhiễm mỡ cũng là một nhân tố có thể dẫn đến ung thư gan. Hiện nay ở Việt Nam có đến 20-30 triệu người bị gan nhiễm mỡ. Các chuyên gia cho rằng gan nhiễm mỡ là bệnh của lối sống hiện đại: ít vận động, ăn nhiều đồ ngọt, nhiều dầu mỡ.

Khi bệnh gan nhiễm mỡ nặng lên sẽ phát triển thành xơ gan, thậm chí là ung thư gan. Một số người trực tiếp chuyển từ gan nhiễm mỡ thành ung thư gan.

Trên thực tế bệnh gan nhiễm mỡ hoàn toàn có thể dự phòng và điều trị chỉ bằng lối sống lành mạnh. Trong đó đi bộ là biện pháp đơn giản và hiệu quả.

Mỗi ngày đi bộ 30 phút tại nơi không khí trong lành sẽ giúp tăng cường tuần hoàn máu, tăng cường chức năng tim phổi, tiêu hao năng lượng dư thừa và mỡ.

Chế độ ăn nhiều rau quả, hạn chế đồ ngọt, đồ ăn nhanh, đồ ăn nhiều dầu mỡ cũng giúp chống béo phì, phòng chống bệnh gan nhiễm mỡ.

5. Thực phẩm mốc

Aflatoxin là độc tố vi nấm sản sinh tự nhiên bởi một số loài Aspergillus. Các chủng nấm này phát triển mạnh ở các loại thực phẩm nông sản gạo, ngô, lạc, đậu, hạt hướng dương… trong các điều kiện thuận lợi nóng và ẩm, nhất là điều kiện thời tiết ở Việt Nam.

Afatoxin gây hại cho nhiều cơ quan nhưng mục tiêu “ưa thích” nhất là gan. Khi xâm nhập vào gan có thể gây gan nhiễm mỡ, xơ gan và ung thư gan. Năm 2015 WHO đã đưa aflatoxin vào danh sách 116 chất gây ung thư.

Đặc biệt aflatoxin bền vững ở nhiệt độ cao. Các nghiên cứu thử nghiệm cho thấy, khi đem lạc mốc rang lên ở nhiệt độ cao, các bào tử nấm mốc bị tiêu diệt nhưng độc tố của chúng vẫn không bị phá hủy hoàn toàn. Vì vậy nếu thực phẩm nghi ngờ bị mốc hoặc chớm mốc nên kiên quyết bỏ hoàn toàn, không nên cố phơi nắng dùng lại hoặc chế biến ăn.

Đặc biệt các sản phẩm làm từ thực phẩm bị mốc cũng dễ nhiễm aflatoxin. Năm 2014, Trung Quốc phát hiện một số lô dầu lạc chứa aflatoxin vượt gấp đôi ngưỡng cho phép.

Thịt, sữa động vật nuôi bằng ngũ cốc nhiễm aflatoxin sẽ chứa nhiều aflatoxin. Vì vậy thực phẩm bị nấm mốc đem cho động vật lấy thịt ăn cũng nguy hiểm cho con người.

Năm 2011 tại Trung Quốc từng xảy ra vụ bê bối sữa có liên quan đến độc tố aflatoxin. Nguyên nhân là do thức ăn của bò nhiễm aflatoxin, khiến chất độc ngấm vào sữa.

Một số biện pháp phòng ngừa nhiễm độc tố aflatoxin

  • Bỏ hoàn toàn thực phẩm đã bị nấm mốc hoặc nghi ngờ nấm mốc. Không phơi nắng dùng lại hay chế biến để ăn.
  • Hạn chế tích trữ nhiều thực phẩm. Bảo quản thực phẩm ở nơi khô ráo, thoáng mát.
  • Mua các sản phẩm như dầu lạc, ngũ cốc, sữa của các thương hiệu uy tín.

Bên cạnh một số nguyên nhân chính kể trên, các nghiên cứu đã phát hiện béo phì, hút thuốc, tiểu đường, ứ sắt cũng có liên quan với ung thư gan. Khi phòng tránh được các nguyên nhân nói trên thì khả năng bạn mắc ung thư gan chỉ còn rất nhỏ.

NARAPHAR – Tinh hoa từ thảo dược

Đọc tiếp

DAY BẤM HUYỆT NÀY TRONG 45 GIÂY, BẠN SẼ THẤY ĐIỀU KỲ DIỆU XẢY RA

Điều kỳ diệu khi day bấm huyệt “con mắt thứ ba”

Tác động đến điểm huyệt nằm dọc theo các kinh mạch trong cơ thể sẽ giúp bạn thư giãn và điều trị bệnh tật. Chúng ta có thể tìm thấy 400 điểm như vậy trên cơ thể mình.

Người ta tin rằng, năng lượng sống là những thứ chảy qua 12 kinh mạch chính trong cơ thể kết nối đến các cơ quan khác nhau.

Bệnh sẽ xảy ra khi một kinh mạch bị chặn hoặc mất cân bằng. Day bấm huyệt này sẽ giúp bạn giảm căng thẳng cơ bắp, cải thiện lưu thông, kích thích các endorphins trong não bộ.

Mặc dù chưa biết rõ được nguyên nhân nhưng một số nghiên cứu cũng khẳng định, liệu pháp day bấm huyệt giúp làm giảm đau nhức đáng kể.

Bạn nên ấn vào các huyệt với áp lực vừa phải trong một vài giây đến vài phút, sau đó buông ra. Để có kết quả tốt nhất, bạn nên vừa giữ điểm bấm huyệt vừa hít thở chậm và sâu.

Day bấm huyệt ở trán (con mắt thứ 3) còn giúp làm dịu tâm trí, cải thiện trí nhớ, giảm căng thẳng, mệt mỏi mãn tính, đau đầu, mỏi mắt và mất ngủ.

Nó cũng giúp giảm đau xoang và nghẹt mũi, đồng thời rất có lợi cho sự mất cân bằng về tinh thần và tình cảm.

Chúng ta chỉ cần nhắm mắt và xác định vị trí của điểm giữa hai lông mày. Sử dụng ngón tay giữa từ từ nhấn lên điểm đó một vài giây đến 1 phút, sau đó thư giãn. Hãy làm như vậy nhiều lần trong tuần.

Day bấm huyệt ở trán giúp làm dịu tâm trí, cải thiện trí nhớ, giảm căng thẳng, mệt mỏi mãn tính…

Chuyên gia Đông y nói gì?

Thạc sĩ, lương y đa khoa Vũ Quốc Trung (Phòng chẩn trị y học cổ truyền) khẳng định, huyệt ở trán là huyệt quan trọng, nếu biết day bấm đúng cách sẽ có tác dụng không ngờ cho sức khỏe.

“Nếu bạn bị bệnh vùng đầu, mắt, trán thì có thể day bấm 2 huyệt này (có thể day bấm cả huyệt ở sống lực) cực tốt, sẽ nhanh chóng phục hồi sức khỏe hơn.

Kết hợp một số huyệt khác ở vùng đầu như huyệt thái dương, nhân trung, đỉnh đầu sẽ giúp bạn khỏe nhanh hơn”, ông Trung nói.

Vị lương y này cho biết, huyệt sau sống lưng đặc biệt quan trọng, có quan hệ mật thiết với 12 huyệt trên cơ thể.

Ví dụ, nếu bạn bị thận thì day bấm huyệt thận du, nếu bị bệnh tim thì day bấm huyệt tâm du, bị đại tràng thì day bấm huyệt đại trường du…

Bạn có thể nhiều huyệt vị khác có liên quan để hỗ trợ khỏi bệnh nhanh hơn.

Lương y Vũ Quốc Trung cung cấp một số loại huyệt vị bạn nên biết:

– Phế du: Thuộc kinh bàng quang, nằm ở đốt sống D3, sang hai bên 2,5 – 3 cm tùy cỡ người to nhỏ. Khi day bấm huyệt này có thể chữa ho, đau lưng , đau ngực.

– Tâm du: Cũng thuộc kinh bàng quang, nằm ở đốt sống D5, sang hai bên. Khi day bấm huyệt này giúp chữa các bệnh về tim mạch, tâm thần, di chấn não.

– Tì du: Thuộc kinh bàng quang, sang hai bên 1,5 – 3cm chữa tiêu hóa, đau dạ dày, đau lưng.

– Thận du: Nằm ở đốt sống D12, cách cột sống 2-2,5 cm tùy người to nhỏ, chữa đau lưng, bệnh về sinh dục, đái dầm.

Như vậy, mỗi huyệt vị đều liên quan đến một tạng phủ trong cơ thể bạn. Điều quan trọng nhất là bạn cần biết cách day bấm, vì trong cơ thể mỗi người có hàng nghìn huyệt khác nhau:

+ Tìm đúng vị trí của huyệt.

+ Xác định rõ huyệt đó chữa bệnh gì.

+ Day hoặc bấm ấn sâu vào huyệt.

Lương y lưu ý, muốn đạt được hiệu quả cao nhất, bạn cần phải kết hợp day bấm các huyệt vị khác nhau với thời gian thích hợp tùy thuộc cơ thể yếu hay khỏe, không day bấm quá lâu một chỗ và nên dùng ngón cái để day bấm.

“Tuy nhiên, người bị bệnh ngoài da, huyết áp cao, đang bị ốm không nên dùng cách bấm huyệt chữa bệnh”, lương y Trung cảnh báo.

Dược phẩm Naraphar – tinh hoa từ thảo dược

 

Đọc tiếp

BÀI LỤC BÁT VỊ CHỮA VÔ SINH HIẾM MUỘN

“Do tạng thận là quan trọng bậc nhất của cơ thể, tất cả bệnh tật của con người rốt cuộc rồi cũng liên hệ tới thận, vì thận là nguồn gốc của trăm thứ bệnh. Xét trăm bệnh gây ra không bệnh nào là không vì hỏa, mà hỏa phát ra không khi nào là không do hư, vì gốc chứng hư không khi nào là không do thận.”
Tiền triết có nói: “Nhà Y mà không hiểu rõ chân tướng của tiên thái cực, không nghiên cứu tác dụng thần diệu của thủy hỏa vô hình mà không thể trọng dụng được những bài thuốc hay như Lục vị, Bát vị thì làm thuốc còn thiếu sót hơn một nửa.

“Do tạng thận là quan trọng bậc nhất của cơ thể, tất cả bệnh tật của con người rốt cuộc rồi cũng liên hệ tới thận, vì thận là nguồn gốc của trăm thứ bệnh. Xét trăm bệnh gây ra không bệnh nào là không vì hỏa, mà hỏa phát ra không khi nào là không do hư, vì gốc chứng hư không khi nào là không do thận. Vì thủy là nguồn của muôn vật, hỏa là cha của muôn vật, nguồn hay cha đều căn bản ở thận cả. Hễ thận nguyên đầy đủ thì mọi thể hiện đều yên và bệnh tật không có nữa.

Người ta có sự sống đều nhờ vào tác dụng của âm dương thủy hỏa, mà thận là cái rễ của âm dương thủy hỏa, nếu âm dương mất điều hòa, thủy hỏa thiên lệch, trăm bệnh sinh ra ngay, mà cách chữa cứu âm không gì bằng làm mạnh chân thủy, bổ dương không gì bằng làm ích chân hỏa, mà thận cũng vừa là thủy cũng vừa là hỏa, cho nên cứu âm cứu dương mà không tìm chủ của nguồn thủy hỏa, bỏ rơi tạng thủy hỏa, bỏ bài Lục, Bát vị thì không tìm thấy cửa tất không có lối vào, cũng như trồng cây mà muốn bỏ rễ liệu cây có sống được không?”.

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác có nói: “Tôi kinh nghiệm chữa bệnh đã lâu, biết rằng sự thần diệu của cổ phương không bài nào bằng các bài Lục, Bát vị, thật là thuốc thánh để bảo vệ sinh mạng, nếu mà hiểu sâu được ý nghĩa gặp từng loại bệnh mà suy rộng ra thì càng dùng thấy càng hay, đem chữa bệnh nào mà chẳng được.
“Dùng để trục tà (giải cảm) thì nó bổ chân thủy mà ra được mồ hôi.
“Dùng để tiêu đờm thì tan được chất hủ bại mà vận hóa mạnh lên.
“Dùng để khu phong thì nó sinh ra huyết mà phong tự hết.
“Dùng để tán hàn thì nó bổ chân hỏa mà âm hàn tự tiêu.
Hồi sinh sau ba lần tai biến mạch máu não Sau 2 tuần Đờm (đàm) Ho giảm hẳn, sau 3 tháng cơn Hen biến mất! Tôi Mừng lắm!!!
“Dùng để thanh thử thì nó thu nạp được khí về nguồn gốc.
“Dùng để trừ thấp thì nó dẹp được hết thủy tà.
“Chữa trẻ con thuần dương (hay sốt nóng) thì nó sinh thêm thiên quý để cứu bệnh không có âm”.
Công dụng chữa hiếm muộn
Cũng theo Hải Thượng Lãn Ông, các bài Lục vị, Bát vị có công dụng đặc biệt tốt trong điều trị bệnh hiếm muộn – vô sinh nam nữ. Ông có nói:
“Chữa bệnh kinh huyết thì nó bổ cho chân thủy để tưới nhuần vào chỗ huyết khô, huyết bế.
“Chữa bệnh vô sinh nam thì nó bổ thận, bồi dưỡng ngũ tạng,sinh tinh, làm cho tinh khí mạnh mẽ, rất dễ thụ thai.
“Chữa bệnh vô sinh nữ thì nó bổ chân âm điều hòa khí huyết kinh nguyệt, dưỡng trứng và nuôi dưỡng dạ con (tử cung).
“Uống lúc có mang thì nó giữ vững bào thai.
“Uống sau khi đẻ thì nó bồi dưỡng thêm tinh huyết; các chứng Phong, Lao, Cổ, Cách, uống bài này cũng cứu vãn được; thuốc uống lâu chân hỏa vững chắc ở đan điền thì hư phong còn đâu mà phát lên được, không phải lo sợ trúng phong nữa, vị cam ôn thì trừ được nóng dữ, vị bổ dưỡng thì tinh huyết dễ sinh, chứng cốt chưng (âm hư sốt nóng hâm hấp), phục nhiệt (nhiệt phục bên trong) còn chỗ nào ẩn náu được, chứng lao đã thành cũng khó mà dằng dai được, chân hỏa ở dưới đầy đủ, nguyên khí ở giữa tự nhiên lớn mạnh, sự tiêu hóa bình thường, thì chứng đầy bụng mà làm sao sinh được, chứng cổ trướng cũng không lo nữa. Dưới nồi có lửa thì cơm trong nồi tự nhiên chín, tinh khí dào dạt, tinh ba lan khắp bốn bên, thì chứng táo sáp, ợ nghẹn còn lo gì nữa. Chứng nặng đã có thể tiêu tan, thì chứng nhẹ dứt khoát khó mà trầm trọng được, huống hồ các loại rôm sảy nhỏ nhặt thì có khó gì, thật là môn thuốc quý báu nhất, là bài thuốc hay nhất dể bảo vệ sinh mạng. Dùng thường xuyên thì tinh huyết dồi dào da và sắc mặt hồng hào, sức khỏe dẻo dai, gân xương rắn chắc”.
Điều chủ yếu: cách dùng nó như thế nào là một vấn đề.
Trong bào chế bài Lục vị – Bát vị, vị thục địa là quan trọng nhất bài, chế kỹ rồi đem nấu cao hoặc giã nhuyễn ra trộn vào phần thuốc bột còn lại của bài thuốc, không nên sấy khô tán bột sẽ mất tác dụng của bài thuốc, không còn bổ thận nữa. Các vị còn lại trong bài tùy bệnh mà bào chế và gia giảm, chẳng hạn như: sơn thù tẩm rượu, hoài sơn, bạch linh tẩm sữa tươi hấp chín,phơi khô để dùng; đơn bì, trạch tả tẩm muối, sao khô. Ngoài ra còn có thể gia các vị như: đỗ trọng, tục đoạn, câu kỷ tử, tỏa dương, nhục thung dung, huỳnh tinh, thỏ ti tử, ngũ vị tử, mạch môn, ngưu tất, ba kích, đương quy, bạch thược…


Bài Lục, Bát vị theo cổ phương: thục địa 320g, hoài sơn 160g, sơn thù160g, bạch linh120g, mẫu đơn bì 120g, trạch tả 120g. Thêm 2 vị nhục quế 40g, phụ tử 40g là bài bát vị. Cách chế: thục địa nấu cao, còn các vị khác sấy khô tán bột thắng mật ong thành châu, hòa chung làm viên hoàn mềm 10g, mỗi ngày dùng 4 – 6 viên với nước.
Giới thiệu sản phẩm giúp bồi bổ sức khỏe, tăng cường sinh lực, chữa hiếm muộn vô sinh cho nam giới: NARAMEN
Đọc tiếp

KỲ DIỆU: THỨC UỐNG ĐẨY LÙI BỆNH GOUT AI CŨNG CÓ THỂ LÀM ĐƯỢC

Bệnh khởi phát với các triệu chứng như đau ngón chân cái, lần lên cổ chân, đầu gối, đến ngón tay, khuỷu tay… dần dần toàn thân đau nhức, chân tê nhức như bị ngàn mũi kim châm chích, cứ cà lết chứ không thể đi đứng bình thường.

Nhắc đến Gout, ai đã từng mắc bệnh đều phải rùng mình bởi những cơn đau từ nó. Từ khi bệnh trở nặng, các thao tác tay chân không linh hoạt, thậm chí có lúc đau quá phải bám vào tường hoạc dùng nạng để di chuyển. Rất đau đớn.

Gout là bệnh mạn tính, một dạng viêm khớp phức tạp, gây nhiều đau đớn và quá trình điều trị kéo dài. Gout xảy ra do sự tích tụ axit uric trong các khớp.

Thông thường axit uric hòa tan trong máu, nó bài tiết qua thận và ra khỏi cơ thể qua đường tiểu.

Tuy nhiên, axit uric sẽ tích tụ lại trong máu khi nó gia tăng quá mức, thận không bài tiết hết do chức năng thận bị yếu hoặc do dung nạp quá nhiều thực phẩm giàu purine.

Thức uống kì diệu đẩy lùi bệnh gout ai cũng có thể tự làm - Ảnh 1.

Chức năng thận bị yếu sẽ khó lọc axit uric. (Ảnh minh họa)

Bệnh này không phải là không có cách chữa, tuy nhiên bạn phải tiêu diệt nó ngay từ lúc khởi phát.

Bài thuốc từ một loại nước uống khá bình dân, ít tốn tiền và dễ làm dưới đây có thể khiến bệnh gout bị kiềm chế, mọi người nên thử.

Ngay khi thấy dấu hiệu bị gout ở ngón chân cái, mu bàn chân, mắt cá chân, gót chân, cổ tay, ngón tay hay khuỷu tay… bạn có thể áp dụng phương pháp tự nhiên này để loại bỏ gout hoàn toàn.

Thức uống dễ làm này được chế biến từ các nguyên liệu đơn giản, giúp ngăn ngừa, xử lý gout hiệu quả không kém những dược phẩm chống viêm khác.

Thành phần

+ 1-2 thìa canh bột nghệ

+ 2-3 thìa cà-phê bột gừng

+ 1 cốc nước ép quả cherry

+ Mật ong

+ 1 quả dứa

Thức uống kì diệu đẩy lùi bệnh gout ai cũng có thể tự làm - Ảnh 2.

Hỗn hợp chữa gout hiệu quả. (Ảnh minh họa)

Thực hiện

Cắt gọt dứa, rửa sạch, cho vào máy xay sinh tố xay nhuyễn. Sau đó thêm gừng, bột nghệ, nước ép cherry vào trộn đều. Thêm ít mật ong tùy khẩu vị để hỗn hợp dễ uống và ngon hơn.

Cho hỗn hợp vào chai/lọ thủy tinh, bảo quản trong tủ lạnh. Mỗi ngày, bạn uống 1 ly để có kết quả tốt nhất. Hỗn hợp này có thể bảo quản trong tủ lạnh 10 ngày, không trữ quá 1 tháng. Do đó, bạn lưu ý chế biến hỗn hợp vừa đủ.

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược

 

Đọc tiếp

VẬN DỤNG ĐÔNG Y ” BẮT MẠCH” ĐỂ BIẾT SỨC KHỎE, PHÚC THỌ VÀ TÀI VẬN CỦA MỘT NGƯỜI

Xem mạch mà biết bệnh trạng, tình chí của một người, đó là tinh hoa của người xưa mãi lưu truyền.
Trung y xem bệnh bắt mạch chú trọng vọng, văn, vấn, thiết. Có lúc bệnh nhân chưa bước vào, mới nghe âm thanh, ngửi khí vị, hoặc quan sát từ xa xương cốt, thân hình, diện mạo, da thịt, những đồ vật cá nhân ấy từng dùng, môi trường gia dụng, nếp sống sinh hoạt… thì đã biết bị mắc bệnh gì, tuổi thọ dài ngắn, phúc phận của họ. Dưới đây là 7 bước chẩn đoán trong Đông y:
1. VọngVọng – nhìn ngoại hình, xem toàn bộ hình và thần đoán biết tuổi thọ.

Hoàng đế nội kinh”viết rằng: Người thượng cổ đều biết đạo dưỡng, họ bắt chước theo lẽ biến hóa của Âm Dương, hòa hợp được với thuật luyện tinh khí, ăn uống có điều độ, thức ngủ theo lẽ thường, không lao động mệt nhọc một cách cẩu thả, do đó hình thể và thần khí của họ đầy đủ để có thể sống trọn tuổi trời, trăm tuổi mới hết mệnh.

Ăn uống điều độ, làm việc nghỉ ngơi hợp lý, điều chỉnh tình chí, giữ vững tinh thần, thuận phép tự nhiên, thuận tứ thời (4 mùa), thì có thể giữ chính khí trong cơ thể, là nâng cao sức miễn dịch, tăng cường sức đề kháng, phòng trừ bệnh xâm nhập.

2. Văn

Văn: Nghe âm thanh biện đoán nỗi niềm tình chí.

Thất tình nhân sinh bi khổ, hỉ nộ ai lạc, ưu tư bi khủng, kinh… là chuyện thường trong cuộc sống nhân sinh. “Tố vấn – Khí giao biến đại luận” viết: Có tin mừng có nộ, có lo có tang, có trạch có táo, điều này cũng bình thường. (“Hữu hỉ hữu nộ, hữu ưu hữu tang, hữu trạch hữu táo, thử tượng chi thường dã“).

Nếu có thể coi nhẹ, trong “Tố vấn – Thượng cổ thiên chân luận” còn viết: Điềm đạm chẳng lo nghĩ, chân khí theo đó mà đến, cố giữ tinh thần, bệnh làm sao đến được. (“Đim đạm hư vô, chân khí tòng chi, tinh thn nội thủ, bệnh an tòng lai?“).

3. Vấn

Hỏi sở thích khẩu vị ẩm thực mà cho bệnh.

Con người lấy thủy cốc làm cơ bản, thủy cốc vẫn là nguồn của sinh hóa khí huyết. No đói thất thường, nghiện món ăn thiên lệch quá độ, ẩm thực không cân bằng đều có thể tạo thành sức đề kháng của cơ thể giảm sút.

Nguyên tắc kết hợp thực phẩm trong “Nội kinh” viết: Năm loại hạt dùng để nuôi dưỡng cơ thể, năm loại quả hỗ trợ thêm, năm loại thịt gia súc có ích lợi cho sức khoẻ, năm loại rau dùng để bổ sung thêm, khí vị hợp lại làm bổ ích cho tinh khí con người. (“Ngũ cốc vi dưỡng, ngũ quả vi trợ, ngũ súc vi ích, ngũ thái vi sung, khí vị hợp nhi phục chi, dĩ bổ ích tinh khí“).

Trong “Tố vấn – Chí chân yếu đại luận” viết: Ngũ vị nhập vị, mỗi vị một sở thích, vị chua nhập can, vị đắng nhập tâm, vị ngọt nhập tỳ, vị cay nhập phế, vị mặn nhập thận (“Phu ngũ vị nhập vị, các quy kỳ sở hỉ công, toan tiên nhập can, khổ tiên nhập tâm, cam tiên nhập tỳ, tân tiên nhập phế, hàm tiên nhập thận”).

Nghiên cứu hiện đại chứng minh: Phương thức sinh hoạt của con người (Từ thói quen ăn uống đến công việc áp lực) khác nhau, tỷ lệ nguy cơ mắc bệnh của họ cũng khác nhau. Do đó, phối hợp dinh dưỡng cân bằng, không được vì để giảm béo mà cố ý không ăn ngũ cốc, cũng không được ăn uống quá nhiều, no đói thất thường.

Vị chua nhập gan, vị đắng nhập tim, vị ngọt nhập tỳ, vị cay nhập phổi, vị mặn nhập thận thuận theo ngũ hành mà dưỡng sinh (Ảnh: qua TUB GIT)

4. Thiết

Thiết – Bắt mạch tượng tam bộ-cửu hậu quan sát khí huyết tạng phủ nhiều ít.

Phương pháp chẩn đoán Tam bộ cửu hậu bao gồm ba bộ: Nhân nghênh, Thốn khẩu, Phu dương, cho tới phương pháp chẩn đoán cửu hậu. Nhân nghênh gần tâm, nên lấy hậu (đợi) tâm khí là chủ yếu (tương đương với bộ phận động mạch cảnh), Phu dương chủ hậu vị khí (khoảng vị trí động mạch mu chân), Thốn khẩu: tại động mạch cổ tay – động mạch quay (thốn, quan, xích tam quan), quan sát lục phủ ngũ tạng, khí huyết 12 kinh mạch nhiều ít. “Ngọc hàm kinh – Sinh tử ca quyết” nói: “Thiết mạch định được con đường sống chết”. Cửu hậu chỉ 3 bộ trên, giữa, dưới “ thiên, địa, nhân” cửu hậu của cơ thể, ứng với biến hóa khí huyết toàn thân.

5. Tra

Tra – xét điều chỉnh, thuận ứng của biến hóa của bốn mùa.

Con người nếu có thể thuận ứng xuân hạ thu đông bốn mùa biến hóa, điều chỉnh sinh hoạt làm việc nghỉ ngơi, thì có thể dưỡng sinh kéo dài tuổi thọ.

Ba tháng mùa xuân là lúc phô trần cái mới, trời đất đều có sinh khí, vạn vật hân hoan hớn hở; [người ta] đêm ngủ thì sáng nên dậy sớm, bách bộ trong sân, y phục rộng rãi tóc tai thoải mái, để cho tinh thần và ý chí thuận sinh với khí tiết; nghĩa là để cho sinh trưởng chứ không sát hại, cho tặng chứ không tước đoạt, khen thưởng chứ không trách phạt, đó là ứng với khí xuân, là đạo nhiếp dưỡng sinh khí. Nếu làm ngược lại thì hại gan, và đến mùa hạ thì sinh bệnh có tính hàn, mà không đủ điều kiện sinh trưởng cho mùa hạ.

Ba tháng mùa hạ là lúc thảo mộc sum suê xinh đẹp, khí âm dương của trời đất giao nhau, vạn vật đơm hoa kết trái; sáng nên dậy sớm, đừng sợ ánh nắng mùa hạ; cứ để cho lòng khoan khoái đừng nổi giận, để cho thần khí tràn đầy, để cho dương khí trong thân phát tiết ra ngoài, như vậy sẽ thích ứng với khí hậu mùa hạ, là đạo nhiếp dưỡng trưởng khí. Nếu làm ngược thì hại tim, qua mùa thu thì bị sốt rét bởi vì không đủ điều kiện sinh trưởng cho mùa thu, sang đông chí thì bệnh tái phát.

Ba tháng mùa thu là lúc hình trạng của vạn vật đã ổn định, khí trời gấp rút, khí đất trong sáng; [người ta] nên ngủ sớm và dậy sớm, dậy cùng lúc với gà gáy; để cho thần chí được an ổn, để giảm bớt ảnh hưởng của khí thu đối với con người; phải thu gom thần khí, để cái khí thu được bình hòa; đừng mất sự tập trung tinh thần, để khí của phế thanh tĩnh; như vậy sẽ thích ứng với khí hậu mùa thu, là đạo nhiếp dưỡng thu khí.Nếu làm ngược lại, sẽ làm hại phế, qua mùa đông bị bệnh ăn không tiêu bởi vì không đủ điều kiện sinh trưởng cho mùa đông.

Ba tháng mùa đông là lúc bế tàng. Nước đóng băng và đất nứt nẻ, chớ có quấy động dương khí; nên đi ngủ sớm và dậy muộn một chút, đợi khi mặt trời chiếu sáng rồi hãy dậy, để cho thần chí tiềm phục ẩn tàng giống như dương khí, làm như thể mình có điều bí mật (tức là để thần khí nội tàng), trong sinh hoạt tránh lạnh lẽo mà tìm ấm áp, đừng cho tiết mồ hôi khiến dương khí tổn, như vậy sẽ thích ứng với khí hậu mùa đông, là đạo nhiếp dưỡng tàng khí. Nếu làm ngược lại, sẽ làm hại thận, đến mùa xuân sẽ bị bệnh chân tay tê lạnh, bởi vì không đủ điều kiện sinh trưởng cho mùa xuân.

Xuân – Hạ -Thu – Đông vận hành theo quy luật của vũ trụ, thuận theo mùa mà dưỡng sinh (Ảnh: qua mecon.vn)

6. Thẩm

Thẩm tra xem xét thẩm thị tinh thần, chế độ làm việc nghỉ ngơi. Làm việc nghỉ ngơi cần giữ cân bằng, không được cái gì quá độ, “Nội kinh” viết: “Nhìn lâu thương huyết, nằm nhiều thương khí, ngồi lâu thương cơ nhục, đứng nhiều thương cốt, đi nhiều thương gân

Tinh đầy đủ ắt khí thịnh thần vui vẻ, tinh khuyết thiếu ắt khí nhược thần suy, tinh suy ắt hình bại. Mà “Âm tinh khó thành nhưng dễ mất”. Do đó, sinh hoạt điều độ, phòng dục tiết độ, bớt ưu tư, thu tâm thần để phòng tướng hỏa vọng động.

Thận bất động ắt tinh bảo toàn, tinh mãn không nghĩ muốn dục, động thì âm tinh loạn hao. Thân bất động ắt thần toàn, thần mãn không bị buồn ngủ. Có thể “Bảo tinh an thần, đẩy lùi bệnh tật kéo dài tuổi thọ”. Ba thứ đầy đủ toàn diện, tự nhiên thành tiên.

7. Khán

Khán – quan sát phúc đức tài vận, tướng do tâm sinh. Khi con người không may mắn thường hay nói: “Uống nước có thể bị sặc, đi trên đường một cọng cỏ nhỏ có thể làm bạn vấp ngã”. Vạn vật đều có linh. Nếu tâm cảnh (trong lòng) chuyển biến rồi, quan hệ của người, sự, vật xung quanh ắt có thể cải thiện, cuộc sống cũng có thể phát sinh biến hóa.

Một vị cao nhân về phong thủy từng nói một câu, rất đáng để suy nghĩ. Ông nói “Nếu bạn có phúc phận, sống ở nơi phong thủy kém, phong thủy có thể theo bạn mà tốt hơn lên. Nếu bạn không có phúc khí, sống ở nơi phong thủy tốt, bạn trấn giữ không được tốt, phong thủy tốt có thể tự động bị hủy hoại. Phải tôn trọng sách vạn vật thiên địa nhật nguyệt sơn hà thảo mộc trùng ngư sa thạch, tất cả những thứ này đều có linh. Bạn cung kính chúng, chúng đâu đâu cũng thành tựu bạn, giúp đỡ bạn”.

Một người có đức độ, rộng lượng là một người có vận mệnh tốt mà được trời ban cho phúc thọ 

Cơ thể con người, nếu mềm mại sẽ có đàn hồi, nói lên sức sống mạnh mẽ. Còn gân cốt co cứng, cơ bắp cứng đờ, nếu gặp trường hợp khẩn cấp gấp rút, dễ dàng gân đứt xương gãy, cơ nhục tổn thương, dây chằng căng. Như trẻ con ngã cái bổ nhào, bò dậy và chạy tiếp, chưa chắc xuất hiện vấn đề, bởi vì cơ thể chúng dẻo dai, không bị co cứng.

Do đó, mềm mại chứa đựng sức sống, đức hạnh bao dung vạn vật. Nếu con người ta có thể sống thuận theo tự nhiên, tu dưỡng tinh thần, vô ưu vô nghĩ, thì phúc đức tài vận cũng sẽ vẹn toàn.

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược

Dược phẩm Naraphar nỗ lực mang đến cho bạn đọc những thông tin chính xác và bổ ích nhất. Tuy nhiên khoa học về thân thể người thật rộng lớn và còn nhiều điều y học chưa nhận thức đến được. Do đó, các bài viết tại đây mang tính chất tham khảo. Mọi việc chẩn đoán, điều trị bệnh hay các tình trạng sức khỏe và làm đẹp cần phải có ý kiến các chuyên gia y tế được cấp phép.

Đọc tiếp

NGHIÊN CỨU: SUY NGHĨ XẤU VÀ TIÊU CỰC SẼ SẢN SINH ĐỘC TỐ TRONG MÁU

Các nhà khoa học nhận thấy rằng: Những suy nghĩ tà ác và tiêu cực của con người sẽ tạo ra chất độc trong máu.

Một tạp chí của Mỹ đã công bố một báo cáo nghiên cứu có tựa đề “ý nghĩ xấu, ác sẽ sản sinh ra độc tố trong máu”. Báo cáo cho hay:“Các ý nghĩ xấu, ác của con người có thể dẫn đến sự thay đổi các vật chất hóa học trong sinh lý, từ đó sản sinh ra một loại độc tố trong máu. Khi con người đang ở trạng thái tâm lý bình thường, thì sẽ giống như hơi nước tỏa ra từ một tảng băng, sau đó ngưng tụ lại thành một loại vật chất không màu, trong suốt. Nhưng khi con người ở trong trạng thái hận thù, tức giận, sợ hãi và đố kỵ, ghen ghét thì thứ ngưng tụ lại là các vật thể với khá nhiều màu sắc. Thông qua phân tích hóa học các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, ý nghĩ tiêu cực của con người sẽ sản sinh ra một loại độc tố trong máu”.

Các ý nghĩ xấu, ác của con người có thể dẫn đến sự thay đổi các vật chất hóa học trong sinh lý. …
… từ đó sản sinh ra một loại độc tố trong máu. 

Một nghiên cứu chung giữa Đại học Cardiff ở Anh và Đại học Texas ở Mỹ đã cho thấy, câu nói “Thiện hữu thiện báo ác hữu ác báo (tạm dịch: Ở hiền gặp lành ở ác gặp ác)” là rất có cơ sở khoa học. Các số liệu thống kê cho thấy, các tội phạm tuổi vị thành niên có thân thể khỏe mạnh hơn những thanh niên cùng trang lứa tuân thủ pháp luật nhưng khi bước vào giai đoạn trung niên, tình trạng sức khỏe của họ sẽ sụt giảm nhanh chóng; tỷ lệ nhập viện và bị thương tật cao hơn nhiều lần so với người bình thường. Nguyên nhân rất có thể là do thói quen sinh hoạt không tốt và trạng thái tâm lý bất ổn của họ tạo ra.

Từ năm 1958, Tiến sĩ William, một chuyên gia tim mạch nổi tiếng người Mỹ, đã bắt đầu tiến hành một nghiên cứu theo dõi (follow-up study) đối với 500 sinh viên đại học Y. Sau 25 năm, ông phát hiện ra rằng những người có “cảm xúc thù hận” mạnh hoặc tương đối mạnh thì xác suất tử vong lên đến 96%. Con số này gấp năm lần những người bị bệnh tim.

Stephen G. Post, giáo sư trường Y Stony Brook, nguyên giáo sư môn đạo đức sinh học (bioethics) tại Đại học Case Western Reserve, và nhà văn Jill Neimark, đã tiến hành một nghiên cứu chuyên sâu, từ góc độ của khoa học và y học hiện đại, về mối quan hệ giữa “cho đi” và “hồi báo”, về tác động [trên phương diện tâm sinh lý] của những hành động tốt của con người.

Các nhà nghiên cứu đã tạo ra một bảng đo lường chi tiết để theo dõi những người thường xuyên “cho đi” trong một khoảng thời gian dài, tiến hành phân tích các số liệu thống kê về tâm lý (tâm trí, hay tinh thần) và vật lý (sức khỏe thể chất) cho mỗi loại “cho đi”, xác định xem mỗi loại “cho đi” sẽ nhận lại được “hồi báo” như thế nào, từ đó tìm ra “tác dụng y học” và “chỉ số hạnh phúc” mà “cho đi” sinh ra.

Có một mối liên hệ rõ ràng giữa hạnh phúc và sự cho đi

Kết quả cho thấy, người có “trái tim nhân hậu”, thì những hành động tốt bụng của họ sẽ sinh ra ảnh hưởng sâu rộng và to lớn đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của bản thân. Các kỹ năng xã hội, khả năng phán đoán, các cảm xúc và thái độ tích cực của họ đều được nâng cao toàn diện. Thậm chí một nụ cười, một biểu lộ sự vui vẻ và thân thiện đối với mọi người xung quanh cũng sẽ làm gia tăng nồng độ immunoglobulin A trong nước bọt, từ đó tăng khả năng miễn dịch.

Sau khi tổng hợp hơn 100 kết quả nghiên cứu từ hơn 40 trường đại học lớn của Mỹ và kết hợp dữ liệu từ việc theo dõi các báo cáo thử nghiệm dài hạn, họ đã đưa ra kết luận đáng ngạc nhiên rằng: Giữa “cho đi” và “hồi báo” tồn tại một loại chuyển đổi năng lượng bí ẩn đáng kinh ngạc. Khi con người ta “cho đi”, “hồi báo” sẽ trở lại thông qua nhiều dạng thức khác nhau. Chỉ có điều trong hầu hết các trường hợp, bản thân họ không biết được bằng cách nào.

Ngoài ra, các nhà khoa học còn phát hiện ra một hiện tượng khi nghiên cứu lĩnh vực thần kinh: Khi con người phát xuất ra những suy nghĩ thiện lành, tích cực, cơ thể sẽ tiết ra các chất dẫn truyền thần kinh làm cho tế bào khỏe mạnh và thúc đẩy các tế bào miễn dịch hoạt động, khiến con người không dễ mắc bệnh. Khi ý nghĩ tốt, tích cực tồn tại, hệ miễn dịch cũng trở nên mạnh mẽ. Khi suy nghĩ xấu, tiêu cực chiếm ưu thế, hệ thần kinh sẽ bị đảo lộn theo chiều hướng ngược lại, hệ thống tiêu cực được kích hoạt khởi động, còn hệ thống tích cực thì sẽ bị ức chế, một vòng tuần hoàn các chức năng nội tạng tốt trong cơ thể sẽ bị hủy hoại.

Sự thiện lương sẽ giúp cơ thể ức chế rất nhiều bệnh tật 

Đại học Harvard đã tiến hành một thí nghiệm, trong đó họ cho các sinh viên xem đoạn phim về một người phụ nữ Mỹ cả đời đều ở Calcutta (Ấn Độ) cứu giúp người nghèo và người khuyết tật. Sau khi phân tích nước bọt của các sinh viên, họ phát hiện số lượng kháng thể immunoglobulin A tăng lên nhiều hơn so với trước khi xem phim. Immunoglobulin A là một kháng thể đóng vai trò quan trọng trong chức năng miễn dịch của màng nhầy – lớp bọc bao phủ bảo vệ các cơ quan nội tạng bên trong.

Trong “Hoàng đế nội kinh” có nhắc đến có bốn loại người dưỡng sinh, trong đó loại thứ ba, chính là thánh nhân, có thể thọ trăm tuổi: “Thánh nhân, hòa hợp với đất trời, thuận theo tự nhiên, thích ứng trong mọi hoàn cảnh, không có tâm tư phẫn nộ hay thù hận, hành động không chứa dục niệm, làm việc chăm chỉ và không biết mệt mỏi, tâm tình vui vẻ, bình thản, không tự phụ, không tham lam, tinh thần luôn minh mẫn, tự nhiên có thể sống lâu trăm tuổi”.

“Không có tâm tư phẫn nộ hay thù hận”, hay “Không có ý nghĩ xấu”, giờ đây xem ra rất có cơ sở khoa học.

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược

Dược phẩm Naraphar nỗ lực mang đến cho bạn đọc những thông tin chính xác và bổ ích nhất. Tuy nhiên khoa học về thân thể người thật rộng lớn và còn nhiều điều y học chưa nhận thức đến được. Do đó, các bài viết tại đây mang tính chất tham khảo. Mọi việc chẩn đoán, điều trị bệnh hay các tình trạng sức khỏe và làm đẹp cần phải có ý kiến các chuyên gia y tế được cấp phép.

Đọc tiếp

MẸ BỈM SỮA VÀ NHỮNG CÁCH CHỮA NHIỆT MIỆNG ” THẦN TỐC” CHO TRẺ.

Nhiệt miệng là một bệnh rất phổ biến, hầu như ai cũng mắc bệnh đó ít nhất một lần trong đời, trong đó trẻ nhỏ là đối tượng dễ mắc bệnh nhất. Bệnh này không nguy hiểm, có thể tự lành sau một vài tuần nhưng lại gây khó chịu cho trẻ và rất dễ tái phát. Nhiệt miệng thuộc dạng bệnh không có nguyên nhân rõ ràng. Khi các trẻ em bị mắc bệnh thường rất quấy khóc, bỏ ăn…Dưới đây là những cách chữa bệnh nhiệt miệng cho trẻ tốt nhất tại nhà, được các mẹ bỉm sữa truyền tai nhau, các mẹ nên chú ý để chăm sóc cho trẻ tốt nhất nhé!

Bệnh nhiệt miệng thực chất là bệnh viêm loét niêm mạc miệng do nhiều nguyên nhân khác nhau. Biểu hiện là xuất hiện một vài đốm trắng 1 – 2 mm, to dần, hơi mọng nước tại niên mạc miệng. Vết loét sẽ to dần gây khó khăn cho việc ăn uống nếu không được chữa trị.

1. Lý do trẻ bị nhiệt miệng

  •  Do chức năng miễn dịch bị suy giảm.
  •  Do trẻ bị nóng trong
  •  Do cọ sát làm tổn thương niêm mạc (đánh răng hay bé ngậm phải vật sắc nhọn).
  •  Do bị cắn và bị kích thích từ bên ngoài.
  •  Do rối loạn bài tiết bên trong, do dị ứng với thuốc và thực phẩm.
  •  Do nhiễm khuẩn hay virus.

2. Dấu hiệu khi bị nhiệt miệng

  •  Trẻ quấy khóc, bỏ ăn.
  •  Miệng chảy nhiều nước dãi.
  •  Trong niêm mạc miệng xuất hiện một hoặc nhiều đốm trắng to 1 – 2 mm màu trắng hoặc ngà.
  •  Đốm trắng to dần từ 8 – 10 mm, hơi mọng nước, vài ngày sau đồng loạt vỡ ra tạo thành vết loét.
  •  Nếu không có biến chứng vết loét tự lành sau 10 – 15 ngày rồi lại tái diễn đợt khác tương tự.
  •  Nếu bị nặng có thể gây sốt, nổi hạch.

3. Cách chữa nhiệt miệng cho trẻ bằng thực phẩm

a. Mật ong giúp điều trị nhiệt miệng hiệu quả

– Cho bé ngậm mật ong, mật ong trong miệng sẽ tác động trực tiếp lên chỗ bị nhiệt và tiêu diệt các loại vi khuẩn trong miệng.

– Lấy bông tăm thấm mật ong bôi vào chỗ loét trong miệng.

Kết quả từ nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, dung dịch mật ong 30% có thể ức chế hoặc tiêu diệt hầu hết các loại nấm và vi khuẩn. Tuy nhiên. trong mật ong còn chứa rất nhiều độc tố vì thế đối với trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi tuyệt đối không tùy tiện cho sử dụng mật ong. 

b. Cho bé ngậm chất chát

Chất chát có tính sát trùng (kháng khuẩn, kháng vi-rút) nên sẽ rất nhanh chóng chữa lành các nốt lở do nhiệt miệng. Bạn không cần tìm kiếm ở đâu xa. Có những chất chát lành tính, rất dễ kiếm trong tự nhiên. Ví dụ như nước chè xanh, rau dắp cá, húng chanh, vỏ xoài… Cho bé ngậm một ngụm nước chè xanh (không cần uống nhé, chỉ ngậm rồi nhả ra thôi) trong khoảng 5-10 phút, bé sẽ đỡ nhiều.

c. Uống nước khế chua

Khế là một trong những loại quả có tác dụng thanh nhiệt rất cao. Bạn có thể áp dụng thử “bài thuốc” đơn giản, lành tính, không tác dụng phụ này: Dùng 2-3 quả khế tươi, giã nát, đổ ngập nước sôi vào đun sôi một lúc, có thể cho chút ít đường phèn nếu bé không chịu uống chua, chờ khi nguội thì cho bé ngậm và nuốt dần, ngậm nhiều lần trong ngày. Lựa loại khế chua, tác dụng thanh nhiệt sẽ tốt hơn khế ngọt.

d. Bôi lá bồ ngót

Lá bồ ngót (có nơi gọi là bù ngót) không chỉ dùng nấu canh ăn rất mát mà còn có tác dụng chữa nhiệt miệng vô cùng hữu hiệu. Tước lá bồ ngót tươi, rửa sạch, sau đó mang giã nát, ép lấy nước cốt, hòa với ít mật ong. Dùng bông thấm hỗn hợp này bôi vào chỗ sưng đau, lở trong miệng bé. Ngày bôi 2 – 3 lần sẽ giảm ngay các nốt lở do nhiệt miệng.

e. Cà chua ép

Bạn sẽ bất ngờ với tác dụng của cà chua trong việc chữa nhiệt miệng. Tuy nhiên, đừng nấu chín mà hãy dùng cà chua tươi để ép lấy nước uống. Chỉ sau khi uống vài ly nước cà chua ép trong ngày, bạn sẽ thấy dấu hiệu của các nốt lở nhiệt miệng lành nhanh thấy rõ.

g. Nước cam, chanh

Bản thân nước cam, chanh không “đặc trị” chữa nhiệt miệng. Tuy nhiên, chúng đều chứa rất nhiều vitamin C nên có khả năng tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, giúp bé yêu của bạn vượt qua những căn bệnh do vi-rút, vi khuẩn gây ra (trong đó có nhiệt miệng). Bạn có thể cho bé uống 1 ly nước chanh hoặc cam vắt mỗi ngày. Tuy nhiên, đừng cho bé uống khi bụng đói.

h. Dùng lá rau ngót

  •  Mua rau ngót về rửa sạch, để ráo nước.
  • Giã rau ngót lấy nước cốt và cho vào vài hạt muối.
  • Dùng gạc sạch chấm hoặc xoa vào lưỡi chữa nhiệt miệng rất hiệu quả.

Lá rau ngót rất lành, mát thường dùng làm thức ăn cho sản phụ sau sinh nên dùng để điều trị nhiệt miệng cho trẻ rất hiệu quả.

i. Cùi dừa:

Nghiền nát vài mảnh cùi dừa, sau đó ép lấy nước và dùng để súc miệng khoảng 3 đến 4 lần mỗi ngày.

4. Cách chăm sóc trẻ bị nhiệt miệng tại nhà

  • Uống bột sắn dây ngày 2 lần sẽ giúp bạn giảm đau rát và mau khỏi trong trường hợp bạn bị bệnh nhiệt miệng độ nhẹ.
  •  Để điều trị, mẹ cần cho trẻ uống vitamin C liều cao, Vitamin B2. Vitamin A cũng rất tốt vì giúp cơ thể tái tạo niêm mạc nên chóng khỏi bệnh.
  • Ăn nhiều rau cải xanh hoặc cải bắp, uống nước cam, chanh.
  • Lấy một nhúm hạt mè đen sắc nước ngậm nhiều lần trong ngày sẽ mau khỏi( cách này vô cùng công hiệu đối với ai thuộc thể âm hư hỏa vượng, thận âm hư…)
  •  Mẹ nên nấu nước rau má, râu ngô cho trẻ uống hằng ngày thay cho nước lọc, và phải uống đủ 1,5-2l/ngày
  •  Kiêng đặc biệt nước đá lạnh.
  •  Khi ăn xong súc miệng ngậm nước muối ấm pha loãng.
  • Uống nhiều nước hơn bình thường một chút.
  • Hạn chế ăn các loại gia vị cay nóng như ớt, tỏi, gừng, tiêu… nên ăn nhạt. Các loại thịt nên ăn như cá nước ngọt, ba ba, vịt, ngan… Hạn chế ăn thịt chó, các loại mắm.
  •  Đặc biệt, trà xanh là một trong những dạng tinh chất được khuyến khích dùng để phòng ngừa bệnh nhiệt miệng vì hoạt chất kháng oxy hóa trong trà xanh có tác dụng thu ngắn thời gian phát tán của siêu vi.

5. Củ cải giã nát chữa nhiệt miệng

Củ cải dùng làm rau ăn, có thể chế biến thành nhiều món ăn như luộc, kho với thịt, cá, làm dưa… rất ngon miệng. Ngoài ra, với vị cay, tính lạnh, củ cải còn là một vị thuốc.

Củ cải trắng chứa 92% nước; 1,5% protit; 3,7% gluxit; 1,8 celluloz. Lá và ngọn chứa tinh dầu và một lượng đáng kể vitamin A và C. Một số bài thuốc từ củ cải như sau:

Trị chứng khản tiếng, không nói được: Củ cải sống 300g rửa sạch vắt lấy nước, gừng sống 20g giã vắt lấy nước, trộn hai thứ vào nhau rồi uống ngày 3 lần, uống 2 ngày là khỏi.

Trị chứng lở loét miệng do nhiệt: Giã củ cải sống 300g rồi vắt lấy nước hòa thêm một ít nước lọc, súc miệng ngày 3 lần, dùng 2 ngày khỏi.

Dựa trên những kinh nghiệm dân gian và đề tài nghiên cứu khoa học, dược phẩm Naraphar nghiên cứu và cho ra đời sản phẩm Nhiệt miệng Kids với liều lượng lớn Vitamin C và Vitamin A kết hợp với các thành phần thảo dược tự nhiên như: Mật ong, tinh chất trà xanh, Actiso, rau má, bồ công anh…Giúp  thanh nhiệt, tăng cường sức đề kháng, giúp làm bền thành mạch, chống lở loét. Hỗ trợ liệu pháp điều trị trong các trường hợp bị tổn thương niêm mạc, nhiệt miệng lưỡi trẻ em và người lớn. Sản phẩm có tác dụng hiệu quả nhanh và an toàn sau 3 đến 5 lần uống.

Thành phần: Vitamin C: 300mg, Vitamin A: 4000 IU, Vitamin B1: 10mg, Vitamin B2: 8mg, Vitamin B6 : 10mg, Vitamin B9: 2mg,Vitamin PP: 200mg, Rutin: 200mg, Mật ong: 5mg, Tinh chất trà xanh: 250mg, Actiso: 100mg, chi tử: 100mg, Rau má: 100mg, Bồ công anh: 100mg, phụ liệu: vừa đủ.

Công dụng:Dùng cho trẻ từ 2 tuổi trở lên và người lớn trong các trường hợp: cơ địa nóng hay bị nhiệt, lở loét miệng lưỡi, hay chảy máu cam, chảy máu chân răng do nhiệt và do thiếu vitamin.

Liều dùng: Trẻ trên 2 tuổi: 5- 10ml /lần, ngày 2-3 lần. Trẻ trên 12 tuổi và người lớn: 10 – 20ml /lần. Ngày 2-3 lần. Lắc kỹ trước khi uống.

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược.

Đọc tiếp

VĨ NHÂN THẮNG CẢ THẾ GIỚI, NHƯNG PHẢI CHẾT VÌ BỆNH, BẠN NÊN SUY NGHĨ VỀ CÁCH SỐNG CỦA MÌNH

Bài phát biểu với 10 lời vàng sau đây của GS nổi tiếng TQ đã được chia sẻ chóng mặt trên mạng xã hội. Mỗi lời khuyên của ông đều vô cùng đáng giá cho những ai muốn sống khỏe mạnh.

Bài viết tuyệt vời này của Giáo sư Lưu Huyền Trọng, Chuyên gia Sức khỏe Bộ y tế Trung Quốc, nguyên Trưởng khoa Tim nội khoa, Bệnh viện Thiên Đàn, Bắc Kinh (TQ).

Ông từng gặp rất nhiều ca bệnh, đã đưa ra những phương án điều trị riêng biệt, chân thành, chuyên nghiệp. Từ đó, ông cũng đã chiêm nghiệm và đúc kết lại những kiến thức không có trong sách vở, ông hy vọng mọi người sẽ đọc và áp dụng cho chính mình. Bài phát biểu này đã được ông trình bày ở các hội thảo chuyên đề, sau đó được đăng báo để có cơ hội đến với nhiều người đọc hơn.

Theo giáo sư Trọng, mỗi một con người, sinh mệnh cuộc đời do cha mẹ sinh ra, nhưng con người ấy, muốn sống thọ sống khỏe được bao lâu, phần lớn do mình quyết định. Vì thế, đây đều là những kinh nghiệm về sức khỏe rất có giá trị.

Giáo sư Trọng vốn là một chuyên gia tim mạch nổi tiếng, có kiến thức sâu rộng về bệnh tim mạch sau hàng chục năm tiếp cận với bệnh nhân, vì thế ông lo lắng nhất cho tình hình bệnh tim phát triển hiện nay. Bài viết hơi dài, nhưng rất thiết thực, bạn hãy dành chút thời gian để đọc hết hoặc lưu lại tham khảo.

1. Sinh mệnh do cha và mẹ cho, tuổi thọ là do bản thân tích lũy, người trẻ tuổi không nên vội vàng dốc sức, sống liều mạng

Bạn ăn một bữa không khoa học, một vài ngày không vận động hoặc vận động không đủ, điều đó không có vấn đề gì lớn. Nhưng cứ như thế kéo dài thì sao?

Có những người được xem là tầng lớp tinh anh xuất chúng, vì công việc mà phải đành lòng dốc sức, chăm chỉ nỗ lực hết mình, làm thêm giờ bạt mạng. Điều đó vô hình chung cũng là cách “trồng mầm bệnh trong cơ thể và nuôi dưỡng nó mọc thành cây”. Sau một thời gian thì bệnh mới “bùng nổ”.

Một ví dụ khác là thói quen hút thuốc, uống rượu. Nhiều khi bản thân không muốn làm việc đó, nhưng lại nghĩ rằng mình phải làm quen với những điều đó rồi thể hiện bản lĩnh trước đám đông để khoa trương giá trị của mình?

Giáo sư Trọng cho rằng, hãy bước chân chậm lại mà sống, suy nghĩ về cách sống của mình. Những hành động bột phát nông nổi thời trẻ, đều để lại những hậu quả đáng tiếc khi có tuổi, rồi phải trả giá rất đắt khi về già.

Vì thế, khi còn đang trẻ tuổi, bạn đừng liều mạng bán sống bán chết làm những việc ảnh hưởng đến sức khỏe, lấy lý do “bận rộn” để ràng buộc chúng vào bản thân, bắt cơ thể phải sống cùng và chịu đựng.

Trong tiếng Trung, chữ “mù” được ghép lại từ 2 chữ “hại mắt” và chữ “bận” được ghép từ 2 chữ “tim vong” (chết) điều này thật vô cùng đáng sợ, xấu xí.

2. Các cơ quan nội tạng và xương sống vốn dĩ nên phải được đi đây đi đó, chạy ngược chạy xuôi, nhưng giờ lại phải ngồi yên 8 tiếng

Con người sinh ra, từ lục phủ ngũ tạng cho đến xương sống, vốn dĩ giống như các thổ dân Châu Phi chuyên săn bắn hái lượm, đi khắp mọi nơi, thường xuyên vận động, không phù hợp với việc ngồi mỗi ngày 8 tiếng bất động trong văn phòng.

Nhưng bạn thử để ý xem, khi xã hội phát triển, bỗng chốc một lực lượng lớn những lao động sản xuất bằng chân tay không còn nữa. Chỉ trong vòng mấy chục năm, trên đường phố vốn dĩ toàn xe đạp thì nay đã ngập tràn xe cơ giới.

Nhà chỉ 3 tầng thôi đã không muốn đi thang bộ, đôi chân gần như được “giải phóng”, nhưng cơ thể bạn sẽ không quen với việc này. Kết quả cuối cùng là cơ thể không thích ứng được và sinh ra bệnh tật.

3. Ăn chậm nhai kỹ chính là “tuyến phòng ngự” quan trọng cuối cùng trong chuỗi an toàn thực phẩm

Vì sao nói ranh giới phòng ngự cuối cùng cho vấn đề an toàn thực phẩm chính là cách ăn chậm nhai kỹ? Đó là do trong nước bọt có thành phần có tên là catalase, peroxidase, chỉ cần khi ăn giữ việc “ngậm” thức ăn trong miệng chậm thêm mười mấy giây, thì sẽ có tới 90% các tác nhân gây ung thư, các chất phụ gia hóa học sẽ bị tiêu diệt hoặc loại bỏ bớt.

Đây chính là một cách đặc biệt để giúp nhân loại tự bảo vệ chính mình mà tồn tại.

Nếu chúng ta hễ gặp thức ăn là ăn lấy ăn để, một chốc một lát đã nuốt trôi vào bụng, thì chẳng khác nào biến mình thành thùng nước gạo, 5 phút đã ăn xong một bữa thì rồi một ngày tai họa sẽ đến.

Vì vậy, hãy thư giãn tâm trạng, ăn uống chậm rãi, tốc độ giãn ra, bình tĩnh ăn uống. Ăn càng nhanh thì nguy cơ càng lớn, ăn càng chậm thì độ an toàn càng cao.

4. Tâm trạng bình yên thì không dễ sinh bệnh, trái tim biến động thì lục phủ ngũ tạng rung chuyển

Con người hiện đại bị rơi vào cảnh bận rộn cả ngày, họ không thể sống chậm lại vì lý do tâm lý. Chỉ có giữ sự ổn định tâm lý, làm cho trái tim được bình yên thì lục phủ ngũ tạng mới không dễ sinh ra bệnh, nếu chẳng may mắc bệnh thì cũng dễ dàng hồi phục.

Nếu bạn cả ngày đầu bù tóc rối, mục tiêu sống mơ hồ thì tâm thần sẽ bất an, làm việc vô độ sẽ dẫn đến kiệt sức. Hãy lựa chọn những công việc có ích, có ý nghĩa và có cảm hứng để làm, khi bận rộn sẽ quên đi bản thân mình, đó là những công việc mà dù bận đến đâu cũng có thể làm mà không thấy mệt.

Sự dao động về tâm trạng trong phạm vi bình thường, có thể là điều tốt cho sức khoẻ cả về thể chất lẫn tinh thần. Ví dụ như khi có những cảm xúc tiêu cực, một chút buồn chán, sự đau khổ nhẹ nhàng, sự tức giận bình thường, sự sợ hãi hợp lý, miễn là trong phạm vi chịu đựng được, thì đều tốt cho sức khoẻ thể chất và tinh thần.

5. Muốn sống lâu hơn, thì hãy làm sao để tăng hạn sử dụng của mạch máu lên

“Con người và mạch máu có cùng tuổi thọ” có nghĩa là, cùng với sự gia tăng tuổi tác, động mạch trong cơ thể không ngừng xơ cứng đi, làm tắc nghẽn mạch. Cho đến khi cơ quan quan trọng nhất của cơ thể (tim và não) bị nhồi máu, hư hỏng, cũng đồng nghĩa với thời điểm cuộc đời của một con người đứng trước dấu chấm hết.

Trong nhóm bệnh tim mạch và mạch não thì chứng xơ vữa động mạch gây tổn hại nhiều nhất, chúng ta muốn có được sức khoẻ và tuổi thọ, thì nhiệm vụ chính là phải làm cho thời gian sử dụng các mạch máu, động mạch tăng thêm hạn sử dụng ít năm nữa.

Xơ vữa động mạch từ đâu mà ra, giáo sư Trọng đã tổng kết lại những nguy cơ cao nhất sau đây:

Người cao tuổi, nam giới, phụ nữ mãn kinh, bệnh “tứ cao” gồm huyết áp cao, đường trong máu cao, cholesterol cao, trọng lượng cơ thể cao. Năm khẩu phần ăn cao gồm năng lượng cao (calorie), chất béo cao, đường cao, cholesterol cao, muối cao. Ít hoạt động, hút thuốc, tính cách, chất lượng nước, kết hợp các yếu tố di truyền… đều là những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Người có những đặc điểm trùng với các yếu tố kể trên càng nhiều bao nhiêu, thì nguy cơ mắc bệnh xơ vữa động mạch, nguy cơ mắc bệnh tim mạch càng cao hơn.

6. Bạn không thể cai nổi thuốc lá? Vĩ nhân từng chiến thắng cả thế giới, nhưng lại “bó tay” với sức khỏe.

Một số người biện minh rằng, chẳng phải có người hút thuốc lá nhiều năm mà vẫn sống đến 90 tuổi đó thôi, hút thuốc hay không thì có quan trọng gì.

Giáo sư Trọng cảnh báo: Bạn không cai được thuốc lá, đừng lấy vĩ nhân đó ra làm gương, mà hãy nhìn thẳng vào những người đang nghiện thuốc lá bị thuốc lá cướp đi mạng sống, những người đã mắc bệnh do hút thuốc ấy.

Ví dụ, Cựu thủ tướng Anh Churchill thường xuyên hút xì gà, uống rượu whisky và đã hút qua hàng vạn điếu, nhưng cuối cùng chết vì đột quỵ do thiếu máu cục bộ.

Nhà lãnh đạo tối cao Liên Xô cũ Stalin chết vì xuất huyết não, ông hút thuốc lá. Cựu Tổng thống Mỹ Roosevelt hút thuốc lá, chết vì xuất huyết não trước khi kết thúc Thế chiến II. Đây là những người có thể xem là đã chiến thắng cả thế giới, nhưng lại phải chịu thua và mất đi sức khoẻ.

7. Hãy dùng thực phẩm làm thuốc, đừng dùng thuốc làm thực phẩm

Những loại thức ăn “thần thánh” không phải là thuốc bổ, mà là thức ăn có nguồn gốc từ tự nhiên. Hãy ăn những thức ăn có nhiều màu sắc, được gọi chung là “7 sắc cầu vồng” đỏ, da cam, vàng, lục, lam, chàm, tím ở mức độ càng tự nhiên nhất càng tốt.

Thực phẩm càng “tinh” bao nhiêu, thì có thể khẳng định nó không còn là thực phẩm “tốt”. Ví dụ như mì chính, nếu chế biến ở nhiệt độ từ 150 ~ 200 ℃ sẽ có thể gây ra ung thư. Hay bột nêm từ thịt, chẳng có sự liên quan đến thịt, đôi khi chỉ là mì chính rồi cho thêm gia vị, muối.

Có 3 thứ chui qua đường miệng, mà chỉ cần mở miệng, chúng chui vào và tích tụ lại sẽ trở thành ung thư. Thứ nhất đó là không khí ô nhiễm, thứ hai là nguồn nước không sạch sẽ, thứ ba là thực phẩm bẩn. Khi 3 thứ này tích tụ lại nhiều, đó chính là lúc cơ thể xuất hiện ung thư.

Có người hễ thích ăn gì là ăn, ăn no rồi vẫn tiếp tục ăn thêm ít miếng nữa. Thích uống thì sẽ uống thêm một chút, kiểm tra sức khỏe thì cho là phức tạp, nên hễ đến lịch khám là trốn. Bệnh ung thư luôn “nhè” những lúc bạn chủ quan nhất là sẽ bám theo, tấn công bạn vào những lúc khó ngờ nhất.

Hơn một nửa số bệnh mãn tính liên quan đến ăn uống. Đặc biệt, chế độ ăn có năng lượng cao, chất béo cao, cholesterol cao, đường cao, muối cao, sẽ gây tổn hại lớn đến tim mạch và mạch máu não. Nếu chế độ ăn uống không được kiểm soát đúng cách, sẽ tạo ra gánh nặng lớn cho cơ thể. Bạn hãy thử nhìn vào những người sống thọ, đa số họ đều ăn uống từ tốn thanh đạm, ăn chậm nhai kỹ.

Ăn uống chính là cách tiết kiệm thì giờ nhất. Sống thọ hay không trước hết đều dựa vào cái miệng. Có những người ăn một bát mì đầy chỉ trong ít phút là đã chén sạch trơn, giống hệt như Trư Bát Giới ăn nhân sâm vậy. Còn chưa hề cảm nhận được mùi vị của thức ăn như thế nào.

Khi thức ăn vào bụng, dù bụng đã căng phình lên rồi vẫn cảm thấy chưa đủ no, lại tiếp tục muốn ăn nữa. Như vậy thì rất dễ bị tăng cân béo phì.

Trung tâm cảm giác no của đại não chúng ta mất tới 20 phút mới “cảm nhận” được là bạn đã ăn no, vì thế bạn nên ăn chậm nhai kỹ, chuyển từ thói quen ăn nhanh sang ăn chậm, thì tự nhiên sẽ không cần nhịn đói để giảm cân. Ăn chậm cũng là cách giảm cân tự nhiên.

8. Bất kỳ ai trong chúng ta đều cũng có thể trở thành Quan Thế Âm Bồ Tát

Quan, tức là quan sát, chú ý đến học tập và tích lũy kiến thức.

Thế, tức là hiểu về thế giới, đối xử với những người khác bằng tất cả tấm chân tình.

Âm, tức là biết lọc tiếng ồn, gạn đục khơi trong, biết lắng nghe tiếng nói từ bên trong chính bản thân mình.

Giống như Bồ tát, nếu như dành hết tất cả tình yêu thương cho chúng sinh, thì tất cả chúng ta đều có thể làm Bồ Tát của chính mình.

9. Đừng theo đuổi “hạnh phúc hoàn hảo”, bất kỳ việc gì cũng không thể đạt được ngưỡng mười phân vẹn mười

Tâm trạng hạnh phúc vui vẻ chỉ cần đạt được 8 điểm (tức khoảng 80%) là đủ, hãy trừ lại 20% để dành cho các cảm giác tức giận, bực bội, lo lắng, buồn chán, đau khổ…

Trên bàn tay mỗi người, các ngón tay có những ý nghĩa khác nhau. Ngón cái thường hướng ra ngoài, để mang lại cảm giác động viên, khích lệ. Ngón trỏ hạn chế chỉ thẳng ra phía trước, vì nó có nghĩa dạy dỗ người khác.

Ngón giữa thường cong vào tự nhiên, để đối xử lịch sự với người. Ngón áp út đeo thêm chiếc nhẫn, là để nhắc bạn chăm sóc tốt người mình yêu. Ngón út thi thoảng cũng cần dùng đến, để ngoáy cho cái tai được thư giãn.

10. Nếu có mắc bệnh mãn tính, hãy học cách nói chuyện “phải trái” với bệnh

Những người cao tuổi mắc bệnh mãn tính, nên học cách trò chuyện với bệnh, tức là hiểu bệnh và làm bạn với bệnh.

Cuộc sống có muôn vàn căn bệnh, có những bệnh có thể chữa được, có những bệnh chữa không nổi. Nếu gặp bệnh có thể chữa, bạn nên tìm kiếm sự giúp đỡ của bác sĩ, càng do dự chần chừ, thì càng tử vong sớm.

Cuộc đời dài hay ngắn, cũng nhanh chóng trôi qua. Khi không còn thuốc nào để chữa, cũng đừng buồn chán đau khổ. Chỉ cần bạn tiếp xúc với ánh sáng và không khí, tăng cường vận động và duy trì trạng thái tinh thần thật tốt.

*Theo Thời báo sức khỏe (TQ)

Dược phẩm Naraphar nỗ lực mang đến cho bạn đọc những thông tin chính xác và bổ ích nhất. Tuy nhiên khoa học về thân thể người thật rộng lớn và còn nhiều điều y học chưa nhận thức đến được. Do đó, các bài viết tại đây mang tính chất tham khảo. Mọi việc chẩn đoán, điều trị bệnh hay các tình trạng sức khỏe và làm đẹp cần phải có ý kiến các chuyên gia y tế được cấp phép.

Đọc tiếp

MÃ ĐỀ – MỘT TRONG NHỮNG CÂY THUỐC ” QUYỀN LỰC NHẤT” THẾ GIỚI

Là một loài cỏ dại mọc khắp trong các khu vườn, trên bãi cỏ và ngay cả trong các vết nứt, nhưng cây mã đề, trong hàng trăm năm qua, được sử dụng như một trong những cây thuốc tự nhiên “quyền lực nhất”.

Có lá màu xanh đậm, mọc rậm rạp và chồi cuống nhỏ chứa nhiều chất đặc biệt, cây mã đề, không hổ danh khi được xem là loại thuốc quý đến từ thiên nhiên, có thể chữa được rất nhiều căn bệnh từ trong ra ngoài.

Không chỉ xuất hiện ở Việt Nam hay các nước Châu Á, cây mã đề còn được sử dụng phổ biến ở Châu Âu và những vùng đất đá khô cằn tại Châu Mỹ.

Chữa vết thương, giải độc do côn trùng cắn

Một trong những công dụng nổi bật nhất của cây mã đề là làm se các vết thương và xoa dịu vết bọ cắn. Bởi nó có thể hút độc tố ra khỏi cơ thể một cách hiệu quả.

Cách làm rất đơn giản. Bạn chỉ cần nhai hoặc nghiền lá cây này và đắp trực tiếp lên vết ong đốt, bọ cắn, nốt mụn, vết thương do mảnh thủy tinh hoặc các mảnh vụn ghim sâu trong da hay các nốt phát ban…

Hoặc bạn có thể đắp kín vết thương bằng lá mã đề để nguyên trong 4-12 tiếng để cây thuốc rút các chất độc ra khỏi ra, ngăn ngừa nhiễm trùng và để lại sẹo.

Cai nghiện thuốc lá

Theo một tài liệu nghiên cứu của Tiến sĩ Antonín Šćipin – chuyên gia về tiêu hóa người Nga, ông đã sử dụng mã đề để hỗ trợ cho các bệnh nhân của mình cai thuốc lá trong vòng 1 tuần, kết quả rất nhiều người đã cai dứt thuốc lá nhờ phương pháp này.

Trị tiêu chảy và hỗ trợ tiêu hóa

Mã đề được xem là vị thuốc dễ kiếm giúp cầm tiêu chảy nhanh chóng. Hái 1 nắm mã đề tươi, 1 nắm cỏ nhọ nồi, 1 nắm rau má; đem rửa sạch, cho vào ấm và nước, sắc đặc, uống ngay sẽ khỏi.

Nếu bạn gặp các vấn đề về tiêu hóa liên tục do bị ảnh hưởng nặng nề từ thuốc kháng sinh, dị ứng thức ăn hoặc thực phẩm đổi gen (GMO), cây mã đề giải quyết được những vấn đề này.

Lá và hạt cây đều có tác dụng làm lành cho hệ tiêu hóa đang bị tổn thương và giảm viêm.

Hạt cây mã đề rất hữu ích trong việc duy trì một hệ tiêu hóa sạch sẽ, hoạt động tương tự như chất xơ psyllium, sẽ hấp thụ các chất độc.

Lá có thể được chế biến thành món ăn, làm trà uống hoặc sấy khô. Phần hạt cây có thể xay nhỏ hoặc nấu lấy nước uống dùng trước bữa ăn, không chỉ tốt cho hệ tiêu hóa mà còn có thể giúp bạn giảm cân. Chữa các bệnh liên quan đến đường hô hấp

Chữa các bệnh liên quan đến đường hô hấp

Vì rất giàu khoáng chất silica, mã đề là một chất làm tiêu đờm tuyệt vời. Điều này có nghĩa rằng nó giúp làm sạch sự tắc nghẽn và chất nhầy, điều trị ho hiệu quả, cảm lạnh và nhiều bệnh đường hô hấp khác. “Cây mã đề đóng vai trò như một chất làm long đờm, làm dịu viêm mũi, đau, giảm ho và viêm phế quản nhẹ”, David Hoffmann, người sáng lập Hiệp hội Thảo dược Mỹ cho biết.

Điều trị bệnh trĩ

Với đặc tính làm se, cây mã đề cũng được sử dụng để xoa dịu và chữa lành bệnh trĩ vô cùng hiệu quả. Khi được điều chế thành kem hoặc thuốc mỡ, cây mã đề có thể ngăn ngừa việc chảy máu ở bệnh trĩ và viêm bàng quang.

Các tác dụng khác của cây mã đề

Ngoài những công dụng nói trên, cây mã đề còn rất có ích cho chị em phụ nữ trong những kỳ kinh nguyệt khó chịu, giải quyết nhiều vấn đề về da mặt và thậm chí còn có thể chữa bệnh viêm khớp. Cây mã đề rất hiệu quả trong việc điều trị ngộ độc thủy ngân, tiêu chảy.

Naraphar.

Đọc tiếp

TRÍ TUỆ CỦA TẾ BÀO: Ý NGHĨ VÀ NIỀM TIN CỦA BẠN KIỂM SOÁT ADN

Người ta thường cho rằng DNA quyết định rất lớn đến việc chúng ta là ai – không chỉ màu mắt, màu tóc, thói nghiện ngập, sự rối loạn, sự mẫn cảm mà còn cả khả năng bị ung thư. Nhưng đây là một niềm tin sai lầm, theo nhà sinh học về tế bào gốc, tiến sĩ Bruce Lipton.

Không phải ADN, mà chính nhận thức mới quyết định sức khỏe hay các đặc điểm khác của bạn. Thực sự đây là vấn đề lạc quan hay bi quan, theo tiến sĩ Bruce Lipton:

“Bạn có thể thấy bản thân mình ít nhiều là một nạn nhân của di truyền”. Lipton nói trong bộ phim tài liệu “Sinh học niềm tin”.”Vấn đề với hệ thống niềm tin là nó mở rộng đến một cấp độ khác…. Bạn trở nên vô trách nhiệm. [Bạn nói], ‘Tôi không thể tác động tới nó, vậy thử làm gì?’”

Điều này “nói lên rằng bạn yếu hơn gen của bạn”, TS. Lipton giải thích.

Ông nói, không phải bộ mã gen, mà nhận thức của chúng ta mới là thứ thúc đẩy tất cả các hoạt động của cơ thể.

“Trong thực tế, niềm tin của chúng ta lựa chọn gen, và lựa chọn hành vi của chúng ta.”

Để giải thích về điều này, ông bắt đầu với con số 50 đến 65 nghìn tỉ tế bào tạo nên cơ thể con người. Ông chỉ ra cách một tế bào hoạt động độc lập với DNA và cách nhận thức của nó đối với các kích thích môi trường ảnh hưởng đến DNA. Sau đó, ông áp dụng những nguyên tắc này cho tổng thể cơ thể người, cho thấy sức mạnh nhận thức và niềm tin của chúng ta tác động lên DNA.

Sau đây là tóm tắt đơn giản về lý giải của TS. Lipton. Để biết thêm chi tiết, bạn có thể xem bộ phim tài liệu ở cuối bài viết.

Giải thích 5 bước

1. Tế bào giống như một cơ thể người, nó hoạt động mà không cần DNA

Tế bào giống như cơ thể con người. Nó có khả năng hô hấp, tiêu hóa, sinh sản và các chức năng sống khác. Nhân tế bào chứa các gen, thường được coi là trung tâm của điều khiển – não của tế bào.

Tuy nhiên, khi nhân tế bào được loại bỏ, tế bào tiếp tục các chức năng sống của nó trong một tháng hoặc hơn nữa và nó vẫn có thể phát hiện ra độc tố và chất dinh dưỡng. Điều này chứng tỏ rằng nhân tế bào và các DNA mà nó chứa đựng không kiểm soát tế bào.

50 năm trước đây các nhà khoa học đã giả định rằng gen kiểm soát các đặc tính sinh học. “Điều đó dường như là rất chính xác, chúng ta đã tin vào câu truyện này”. Lipton nói. “Chúng ta đã không có những giả định đúng”


Một minh họa ví dụ cấu trúc của DNA trong nhân của tế bào (ảnh: Học viện quốc gia về người cao tuổi, Mỹ)

2. DNA bị điều khiển bởi môi trường

Protein thực hiện các chức năng trong tế bào và chúng là các khối xây dựng nên sự sống. Từ lâu người ta nghĩ rằng DNA điều khiển hoặc quyết định các hoạt động của protein.

Lipton đề xuất một mô hình khác. Các protein thụ thể ở màng tế bào sẽ cảm nhận các kích thích môi trường, sau đó lan tỏa thông điệp sang các protein khác, tạo ra phản ứng trong tế bào.

Người ta đã biết rằng DNA được bọc trong một ống bảo vệ làm bằng protein. Các tín hiệu môi trường hoạt động trên protein đó, làm cho nó mở ra và chọn một số gen để sử dụng – những gen đặc biệt cần thiết để phản ứng với môi trường hiện tại.

Về cơ bản, DNA không phải là sự khởi đầu của phản ứng dây chuyền, thay vào đó, nhận thức về mội trường của màng tế bào là bước đầu tiên.

Nếu không có nhận thức, DNA sẽ không hoạt động.

“Các gen không thể tự bật hoặc tắt… chúng không thể tự điều khiển chính mình,” Lipton nói. Nếu một tế bào được tách khỏi bất kỳ kích thích môi trường nào, nó sẽ không làm gì cả. “Sự sống phụ thuộc vào phản ứng của tế bào đối với môi trường ra sao.”

3. Nhận thức về môi trường có thể khác với thực tế

Lipton trích dẫn một nghiên cứu bởi John Cairns xuất bản trên tạp chí Nature: ” Nguồn gốc của các đột biến” năm 1988. Cairns cho thấy các đột biến trong DNA là không ngẫu nhiên, mà đã xảy ra theo một cách xác định trước để đáp ứng với những căng thẳng về môi trường.

“Trong mỗi tế bào, bạn có các gen với chức năng viết lại và điều chỉnh các gen khác khi cần thiết,” Lipton giải thích. Trong một số biểu đồ minh họa các phát hiện của Cairns trong tạp chí, các tín hiệu của môi trường là tách biệt với nhận thức về các tín hiệu môi trường của cơ thể.

Nhận thức của một người về môi trường đóng vai trò bộ lọc giữa thực tại và phản ứng sinh học của cơ thể.

“Nhận thức viết lại các gen,” TS. Lipton nói.

4. Niềm tin của con người lựa chọn nhận thức một môi trường là tích cực hay tiêu cực

Giống như một tế bào có các protein thụ thể để nhận thức môi trường bên ngoài màng tế bào, con người cũng có năm giác quan.

5 giác quan giúp một người quyết định các gen cần thiết phải được kích hoạt cho tình huống cụ thể.

Các gen giống như chương trình lưu trên ổ cứng máy tính, Lipton nói. Các chương trình này có thể được phân thành 2 loại: loại thứ nhất liên quan đến sự tăng trưởng hoặc sinh sản, loại thứ hai liên quan đến chức năng bảo vệ.

Khi một tế bào gặp chất dinh dưỡng, các gen tăng trưởng sẽ được kích hoạt và sử dụng. Khi một tế bào gặp các chất độc, các gen bảo vệ sẽ được kích hoạt và sử dụng.

Khi ai đó gặp tình yêu thương, các gen tăng trưởng được kích hoạt. Khi một người đối mặt với sợ hãi, các gen bảo vệ sẽ được kích hoạt.

Khi gặp tình yêu thương, các gen tăng trưởng sẽ được kích hoạt (minh họa bằng DNA màu xanh dương), khi gặp sợ hãi, các gen bảo vệ sẽ được kích hoạt (minh họa bằng DNA màu đỏ) (ảnh: shutterstock)

Một người có thể giữ niềm tin rằng môi trường là tiêu cực cho dù môi trường đó vốn tích cực. khi đó, nhận thức tiêu cực kích hoạt các gen bảo vệ, phản ứng của cơ thể sẽ chuyển sang trạng thái “chiến đấu hoặc bỏ chạy.”

5. Chiến đấu hoặc bỏ chạy

Máu sẽ từ các bộ phận quan trọng của cơ thể tập trung đến các chi, vốn được sử dụng để chiến đấu và chạy. Vào lúc chúng ta chạy trốn một con sư tử, đôi chân sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng so với hệ thống miễn dịch. Vì vậy, cơ thể khi đó sẽ tập trung vào đôi chân và bỏ qua hệ thống miễn dịch.

Do đó, khi một người nhận thức môi trường là tiêu cực, cơ thể có xu hướng bỏ qua hệ thống miễn dịch và các bộ phận quan trọng. Sự căng thẳng cũng làm cho chúng ta kém thông minh hơn, kém minh mẫn hơn. Phần não bộ liên quan đến phản xạ chiến đấu hay chạy trốn được ưu tiên hơn phần liên quan đến trí nhớ và các chức năng tư duy khác.

Khi một người nhận thức được một môi trường thân thiện, cơ thể sẽ kích hoạt các gen tăng trưởng và nuôi dưỡng cơ thể.

Lipton đưa ra ví dụ về các trại mồ côi ở Đông Âu, nơi trẻ em được cung cấp rất nhiều chất dinh dưỡng, nhưng ít yêu thương. Trẻ em ở nơi đó còi cọc về chiều cao, học tập kém và phát triển kém ở các khía cạnh khác. Ngoài ra, các em còn mắc chứng tự kỷ cao. Lipton nói rằng chứng tự kỷ trong trường hợp này là triệu chứng chứng của các gen bảo vệ được kích hoạt, giống như các bức tường bảo vệ được dựng lên.

“Niềm tin hoạt động như một bộ lọc giữa môi trường thực tế và cơ thể sinh học của bạn”, Lipton nói. Vì vậy, con người có sức mạnh để thay đổi đặc tính sinh học của mình. Điều quan trọng là giữ một nhận thức rõ ràng, bởi nếu không bạn sẽ không phản ứng đúng với môi trường thực tế xung quanh.

“Chúng ta không phải là nạn nhân, chúng ta là người sáng tạo. Khi đưa sự căng thẳng vào cuộc sống, chúng ta sẽ tạo ra bệnh tật. Khi loại bỏ căng thẳng, chúng ta sẽ loại bỏ bệnh tật” – Tiến sĩ Bruce Lipton

“Bạn không phải là nạn nhân của các gen”, Lipton nói và đề nghị độc giả cân nhắc “bạn đang mang niềm tin nào khi lựa chọn các gen?

Theo Tara Macisaac/ET

Đọc tiếp