Chào mừng bạn đến với website Naraphar


  Hotline : 0913 333 081

tăng cường sinh lực

KỸ THUẬT CỨU TINH CHO CÁC CẶP VỢ CHỒNG HIẾM MUỘN

Có khoảng 1% cặp vợ chồng không có con do người chồng không may không có tinh trùng trong tinh dịch (y học gọi là vô tinh).

Cứ 100 ông chồng bị vô tinh thì có 70 ông là do tinh hoàn không sinh tinh trùng hay sinh tinh rất kém. Ðiều trị vô sinh cho những người kém may mắn này là một thách thức của các bác sĩ nam khoa.

Làm sao để các tế bào sinh tinh trùng của họ hoạt động trở lại, làm sao để có được tinh trùng, dù chỉ vài con, để họ có thể có con nhờ thụ tinh trong ống nghiệm… là trăn trở của những người đã chọn chuyên ngành nam khoa. Sự ra đời của kỹ thuật vi phẫu trích tinh trùng tinh hoàn (microdissection TESE hay microTESE) giúp tìm ra những con tinh trùng ẩn náu sâu bên trong tinh hoàn thật sự là một cuộc cách mạng trong điều trị vô sinh nam giới.

MicroTESE là gì?

Năm 1999, bác sĩ phẫu thuật tiết niệu – nam khoa Schlegel (người Mỹ) đã giới thiệu một kỹ thuật mới để tìm tinh trùng trong tinh hoàn đối với những người tinh hoàn bị hư, không sinh tinh – đó là microTESE. BS. Schelegel nghiên cứu thấy những trường hợp vô tinh do hai tinh hoàn không sinh tinh thì mô tinh hoàn bị hư hại không đồng nhất, chỗ hư nặng (chẳng còn tế bào sinh tinh nào) và chỗ hư nhẹ (vẫn còn tế bào sinh tinh, thậm chí còn tinh trùng). Tuy nhiên, số tinh trùng này quá ít nên tự chết trong tinh hoàn chứ không kịp bơi một chặng dài, kéo dài khoảng 70 ngày, để ra ngoài khi tinh dịch được xuất ra. Nhờ kính hiển vi phẫu thuật phóng đại mô tinh hoàn, bác sĩ phẫu thuật sẽ “bới móc” toàn bộ mô tinh hoàn để tìm những chỗ còn ống sinh tinh có tinh trùng.

Vi phẫu tích mô tinh hoàn (microTESE) tìm những nơi có ống sinh tinh giãn to, trong đó thường có tinh trùng.

Để dễ hình dung, tinh hoàn người vô tinh giống như sa mạc Sahara, toàn cát. Nhiệm vụ của người bác sĩ nam khoa là tìm ra những ốc đảo có nước, có cây xanh bên trong sa mạc mênh mông đó. Nếu cứ cưỡi lạc đà đi vào sa mạc thì khả năng tìm ra ốc đảo là hầu như không có, nhưng với vệ tinh thám sát bên trên, bác sĩ sẽ định vị được các ốc đảo hiếm hoi đó (hình 2).

Sau khi Schelegel công bố kỹ thuật microTESE, các bác sĩ khắp thế giới đã áp dụng cho những bệnh nhân vô tinh và tất cả đều ghi nhận hiệu quả kinh ngạc của kỹ thuật mổ này. Ở Việt Nam thực hiện thành công kỹ thuật này từ năm 2010.

Làm sao để thực hiện kỹ thuật thành công?

Trang thiết bị vi phẫu không phải là yếu tố quan trọng vì hầu như các trung tâm nam khoa, hiếm muộn đều dễ dàng mua sắm các thiết bị không quá đắt tiền này. Yếu tố quyết định là con người. Để microTESE thành công thì bác sĩ phẫu thuật cần có nhiều kinh nghiệm về vi phẫu và phẫu thuật mô tinh hoàn. Và các kỹ thuật viên tìm tinh trùng đều phải là những người siêu hạng trong việc đọc mô tinh hoàn. Bố trí phòng phẫu thuật, sự đồng bộ của êkíp gây mê, êkíp mổ và êkíp đọc mô tinh hoàn là không thể thiếu.

Tinh trùng kiếm được nhờ microTESE sẽ được làm gì?

Tinh trùng này được sử dụng để làm thụ tinh trong ống nghiệm. Nếu người vợ cũng được chích thuốc kích trứng để làm thụ tinh thì người chồng sẽ được mổ microTESE trước 1 ngày hay cùng ngày vợ được hút trứng. Nếu vợ chưa được kích trứng thì tinh trùng được trữ đông. Khi vợ được tiêm thuốc kích trứng thì tinh trùng sẽ được rã đông để làm thụ tinh nhưng quá trình đông – rã đông có thể làm hư hại một vài tinh trùng quý giá này. Tỉ lệ thành công của thụ tinh trong ống nghiệm với các tinh trùng microTESE cũng tương đương tỉ lệ thành công với các trường hợp dùng tinh trùng trong tinh dịch.

MicroTESE cũng có thể được thực hiện lần thứ 2, thứ 3 nếu như lần mổ đầu bác sĩ mổ tìm thấy nhiều tinh trùng. Do đó, nếu tinh trùng trữ đông không đủ để làm thụ tinh thì bác sĩ có thể mổ microTESE lần nữa cho một số trường hợp.

Biến chứng có thể xảy ra

Đau tức tinh hoàn sau mổ và nhiễm trùng vết mổ bìu là hai biến chứng có thể gặp ngay sau mổ microTESE. Về lâu dài, biến chứng teo tinh hoàn, giảm testosteron không xảy ra do microTESE chỉ lấy ra rất ít mô tinh hoàn nên không làm tinh hoàn bị mất nhiều mô, trong đó có các tế bào tiết ra testosteron.

Khả năng tìm thấy tinh trùng bằng microTESE

Khoảng 60-70% trường hợp vô tinh do hai tinh hoàn teo, không sinh tinh sẽ được tìm thấy tinh trùng bằng kỹ thuật microTESE. Đặc biệt, khả năng tìm thấy tinh trùng ở bệnh nhân bị quai bị làm teo hai tinh hoàn là xấp xỉ 100%. Nếu như trước đây, bệnh nhân bị quai bị làm teo tinh hoàn không thể có con thì nay họ có thể có hạnh phúc làm cha mẹ.

Tinh hoàn teo do ẩn cũng có nhiều hy vọng tìm thấy tinh trùng nhờ microTESE, xấp xỉ 90%. Những người bị bệnh di truyền làm teo tinh hoàn như hội chứng Klinefelter 47, XXY có 50-70% khả năng được tìm có tinh trùng. Người bị bệnh mất đoạn nhiễm sắc thể Y AZFc cũng có 50% được tìm có tinh trùng bằng microTESE.

MicroTESE là kỹ thuật trích tinh trùng hiệu quả và an toàn cho những trường hợp vô tinh do hai tinh hoàn teo. Tinh trùng thu được từ microTESE sẽ được dùng làm thụ tinh trong ống nghiệm và cho kết quả có con tương đương với thụ tinh trong ống nghiệm bằng tinh trùng trong tinh dịch. MicroTESE đã mở rộng chân trời điều trị vô sinh, giúp các cặp vợ chồng bị vô tinh có thể có con của chính mình – điều mà trước đây không thể thực hiện được.

Xem thêm sản phẩm hỗ trợ và điều trị sinh lý nam giới, tăng cường sinh lực, bổ thận, tráng dương, tăng chất lượng tinh trùng  NARA MEN

Thành phần: Hải cẩu pín : 100 mg, bá bệnh : 100mg, thỏ ty tử : 100mg, Tỏa dương: 50mg, khổi tử: 50mg, đồ trọng: 50 mg.

Công dụng: Giúp bổ thận, mạnh gân cốt, tráng dương, tăng nội tiết tố testosterol nam giới, sinh tinh,tăng cường chất lượng tinh trùng. Tăng cường chúc năng sinh lý, tăng ham muốn, giúp giảm xuất tinh sớm,  rối loạn cương dương.

Liều dùng:1-2 viền/lần /ngày. Uống vào buổi sáng và tối trước khi đi ngủ .mỗi đợt dùng từ 10 đên 15 ngày .

Naraphar – tinh hoa từ thảo dược

Đọc tiếp

PHÁT HIỆN KỲ DIỆU CỦA ĐÔNG Y VỀ SEX

Trong y học hiện đại đa số nói nhiều về lĩnh vực sex, nhưng đặc biệt trong Đông y đã có những phát hiện độc đáo về lĩnh vực này. Theo y học phương Đông, để đạt đến sự thỏa mãn hoàn toàn trong hoạt động tình dục, nam giới cần hội đủ “tứ chí” (đủ khí ở 4 tạng), nữ giới phải có “cửu chí” (9 giai đoạn phát triển hưng phấn).

Nếu như tình dục của y học phương Tây dựa trên quan sát các hiện tượng xuất hiện trong quá trình ân ái thì phương Đông lại đặt trọng tâm vào các chức năng. Đông y cho rằng, hành vi tình dục ở con người có 3 chức năng chính: khoái lạc, sức khỏe và sinh sản.

Trong đó, chức năng sức khỏe được đặt lên hàng đầu. Để phát huy được đầy đủ các chức năng đó, sinh hoạt tình dục phải tiến hành theo “đạo”, nghĩa là phải theo đúng nguyên tắc và phép tắc.

Trong sinh hoạt tình dục, người xưa rất coi trọng vấn đề “đồng hứng” và “đồng lạc”, nghĩa là chỉ được giao hợp khi nam nữ cùng mong muốn và cùng vui vẻ. “Đồng hứng” – “đồng lạc” là điều kiện tiên quyết và đồng thời cũng là mục tiêu của quá trình giao tiếp âm dương.

Để giúp cho nam nữ có thể đạt tới mục tiêu đó, các chuyên gia tình dục cổ đại đã quan sát, nghiên cứu rất công phu và phát hiện nhiều quy luật. Trước hết phải kể đến 2 phát hiện hết sức độc đáo, đó là tứ chí ở nam và cửu chí ở nữ.

Tứ chí ở nam: Tứ chí là 4 dấu hiệu, 4 trạng thái biểu hiện các mức độ xung động ở nam giới. Dương vật không “lên” được, đó là can khí chưa tới, vì tạng này phụ trách về gân. Lên được nhưng không nở to, đó là tỳ khí chưa đến đủ, vì tạng tỳ phụ trách về cơ.

Nở to nhưng không cứng, đó là thận khí chưa đủ, vì tạng thận liên quan đến xương cốt. Cứng mà không nóng là thần khí (khí của tạng tâm) chưa đủ, vì tâm không kiên định thì không thể giao hợp lâu.

4 giai đoạn trên là các mức độ xung huyết trong huyết quản ở dương vật, theo y học hiện đại. Tứ chí là 4 điều kiện nam giới cần có đủ, để có thể giao hợp với nữ giới một cách mỹ mãn. Chưa có đủ tứ chí thì không thể giao hợp. Người xưa cho rằng, khi chưa đủ tứ chí thì chớ nên miễn cưỡng, chẳng những không thể khiến nữ giới vui vẻ mà còn làm tổn hại sức khỏe nam giới.

Can khí chưa đến đủ, miễn cưỡng giao hợp sẽ hại gân, tinh dịch chỉ tiết ra từng giọt mà không thể phóng xuất mạnh mẽ. Thận khí chưa đến, nếu giao hợp sẽ có hại xương cốt, tinh dịch không thể xuất, hoặc có xuất thì cũng rất ít.

Tâm khí chưa đến đủ, cố gắng giao hợp sẽ hại huyết, dễ dẫn đến chứng bệnh lãnh tinh (tinh lạnh). Trong Đông y, tứ chí còn thường được sử dụng để phân loại chứng bệnh “dương nuy” (rối loạn cương cứng).

Cửu chí ở nữ: Cửu chí là 9 trạng thái, 9 giai đoạn phản ánh mức độ hưng phấn tình dục ở nữ giới, đồng thời là những dấu hiệu giúp cho nam giới đánh giá đúng mức độ khoái cảm ở bạn tình.

Y gia thời xưa đã nghiên cứu rất kỹ quá trình hình thành cao trào ở nữ giới và phát hiện, trong mỗi giai đoạn, “khí” (năng lượng) đều dồn tới một bộ phận nhất định của cơ thể, tạo ra những phản ứng đặc thù, có thể quan sát và nhận biết.

Má ửng hồng, miệng cười tủm tỉm, đó là tâm khí (khí của tạng Tâm) đã đến. Mắt ướt lung linh, liếc nghiêng đưa tình, đó là can khí đến. Cúi đầu e lệ, đó là phế khí đến. Nghiêng đầu ngả mình, tự thân rung động, đó là tỳ khí đến.

Ngọc môn mở ra, quỳnh dịch thấm ướt, đó là thận khí đến. Xương khớp tê dại, bất động là cốt khí (khí của xương) đến. Hai chân quặp chặt lấy cơ thể nam giới, đó là cân khí đến (cân là gân cơ). Toàn thân rỉ mồ hôi, nóng ran, đó là huyết khí đến (khí của huyết dịch). Da thịt mềm nhũn, đờ đẫn…, đó nhục khí đến.

Cửu khí phải đến đủ mới có thể tiến hành giao hợp. Khi đó mới dễ dàng đạt tới khoái cực, có lợi với sức khỏe, tuổi thọ. Nếu giao hợp miễn cưỡng trong điều kiện nữ giới chưa có đủ cửu khí thì sẽ sinh bệnh và giảm tuổi thọ.

 Chẳng hạn, phế khí chưa tới đã vội vã giao hợp thì tạng phế sẽ bị tổn thương, lâu ngày sẽ dễ bị cảm mạo, mắc chứng ho, hen suyễn… Thận khí chưa đủ (âm hộ chưa mở) mà cố giao hợp thì tạng thận sẽ bị tổn thương, kinh nguyệt rối loạn…

“Đạo” giữa tứ chí và cửu chí: Trong “giao tiếp âm dương” rất cần tri thời, nghĩa là bắt đầu và kết thúc đúng lúc. Ví như nữ giới đang hưng phấn mà nam không “chớp lấy thời cơ”, hưng phấn qua rồi mới giao tiếp, thì nữ giới sẽ bị thương tâm (tạng Tâm bị tổn thương).

Dương vật chưa cứng rắn mà cố giao hợp thì dễ bị tổn thương ở mắt, dẫn đến mù. Ngược lại, nếu dương vật cứng đơ mãi, giao hợp quá lâu, hứng tình đã qua vẫn chưa ngừng, tạng tỳ ở nữ giới dễ bị tổn thương, dẫn tới đau bụng, khó tiêu, tiêu hóa rối loạn…

Xét trên thực tế, tứ chí và cửu khí nói đến ở đây chủ yếu liên quan tới những đôi vợ chồng tuổi trung niên và người cao tuổi. Với nam nữ đang độ thanh xuân, tiềm năng tình dục mới hình thành và đang rất mạnh nên dễ đạt đến các tiêu chí này.

Xem thêm sản phẩm hỗ trợ và tăng cường sinh lý nam giới NARAMEN 

Thành phần: Hải cẩu pín: 100 mg, bá bệnh: 100mg, thỏ ty tử: 100mg, Tỏa dương: 50mg, khổi tử: 50mg, đồ trọng: 50 mg.

Công dụng:Giúp bổ thận, mạnh gân cốt, tráng dương, tăng nội tiết tố testosterol nam giới, sinh tinh, tăng cường chất lượng tinh trùng. Tăng cường chúc năng sinh lý, tăng ham muốn, giúp giảm xuất tinh sớm,  rối loạn cương dương.

Liều dùng:1-2 viền/lần /ngày. Uống vào buổi sáng và tối trước khi đi ngủ. Mỗi đợt dùng từ 10 đên 15 ngày.

Sản phẩm được bộ Y tế chứng nhận và cấp phép. 

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược.

Đọc tiếp

NAM GIỚI SEX BAO NHIÊU LẦN/THÁNG LÀ TỐT NHẤT: MẤT 18 NĂM NHÀ KHOA HỌC MỚI CÓ CÂU TRẢ LỜI

Nam giới trong độ tuổi từ 20 đến 29 quan hệ tình dục và có xuất tinh 21 lần/tháng thì sau này đối mặt với nguy cơ ít bị ung thư tuyến tiền liệt hơn.

Trường Đại học Y tế Công cộng Harvard TH Chan (Mỹ) đã thực hiện một cuộc nghiên cứu kéo dài 18 năm để xác định mối liên quan giữa tần suất xuất tinh và ung thư tuyến tiền liệt.

Cụ thể, các nhà khoa học đã làm một cuộc khảo sát về sức khỏe của 32.000 người đàn ông từ năm 1992, khi họ ở trong độ tuổi 20, cho đến năm 2010. Trong thời gian này, có 4.000 người được chẩn đoán mắc ung thư tuyến tiền liệt.

Kết quả cho thấy, đàn ông ở độ tuổi 20-29 xuất tinh 21 lần/tháng sẽ giảm nguy cơ mắc ung thư tuyến tiền liệt lên đến 19% so với những người có số lần quan hệ tình dục từ 4-7 lần/tháng.

Còn nhóm nam giới từ 40 đến 49 tuổi, xuất tinh ít nhất 21 lần/tháng giảm tới 22% nguy cơ phát triển ung thư tuyến tiền liệt.

Trong một chừng mực nào đó, tần suất xuất tinh là một thước đo sức khỏe tổng quan của một người đàn ông.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những người xuất tinh ít, 0-3 lần/tháng thường có nhiều vấn đề về sức khỏe, và thường chết sớm do các nguyên nhân khác, chứ không đơn thuần vì ung thư tuyến tiền liệt“, tiến sĩ Jennifer Rider, người dẫn đầu nhóm nghiên cứu cho biết.

Bà Rider còn giải thích thêm rằng xuất tinh ở nam giới giống như việc ”rửa sạch” cơ quan sinh dục trong, đồng thời mang lại sự cân bằng nội tiết, từ đó ngăn chặn sự tích tụ của các tế bào già và giảm nguy cơ mắc bệnh nói chung, ung thư nói riêng.

Vì vậy, ngay cả khi xuất tinh một vài lần /tháng cũng có thể mang lại một số lợi ích cho tuyến tiền liệt.

Theo Tạp chí Tiết niệu Châu Âu, ung thư tuyến tiền liệt chiếm khoảng 15% số ca chẩn đoán mắc ung thư trên khắp thế giới. Nguyên nhân ung thư tuyến tiền liệt hiện vẫn chưa rõ ràng, gia tăng ở những người đàn ông lớn tuổi.

Kết quả này là một dấu hiệu tích cực, cho chúng ta thấy rằng vai trò của việc xuất tinh đều đặn có ảnh hưởng tích cực thế nào tới bệnh ung thư tuyến tiền liệt“, bà Rider khẳng định.

Trước đây, một nghiên cứu của Trường Đại học Montréal (Canada) cho thấy những người đàn ông không bao giờ có quan hệ tình dục đối mặt với nguy cơ mắc ung tiền liệt tuyến tăng gấp 2 lần so với những người có quan hệ tình dục thường xuyên.

Tuy nhiên, chuyên gia nghiên cứu ung thư Siobhan Sutcliffe tại Trường Y Đại học Washington ở St. Louis (Mỹ) cho rằng chế độ ăn uống và tập luyện thể thao thường xuyên vẫn là cách tốt nhất để phòng bệnh ung thư, chứ không chỉ riêng quan hệ tình dục.

* Theo Men’s Health

Naraphar – Tinh hoa từ thảo dược

Đọc tiếp